CHÙA CHUÔNG

Địa chỉ: Đường Chùa Chuông, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

GIỚI THIỆU CHUNG

          Chùa Chuông có tên chữ là Kim Chung tự (chùa Chuông Vàng), được xây dựng trên vị thế đắc địa tại khu phố chùa Chuông, phường Phố Hiến (trước đây là phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Đây là một trong những ngôi chùa tiêu biểu, đặc sắc, cảnh đẹp đứng vào hàng danh lam cổ tích trong Khu di tích Phố Hiến.
          Tên gọi Chùa Chuông bắt nguồn từ truyền thuyết: Vào một năm xảy ra trận đại hồng thủy, xuất hiện quả chuông lớn đúc bằng vàng, đặt trên bè gỗ trôi trên sông. Dân làng nhiều nơi đua nhau ra kéo nhưng quả chuông vẫn không nhúc nhích. Một ngày kia, chuông vàng dạt vào bãi sông thuộc làng Nhân Dục. Các tăng ni trụ trì tại ngôi chùa nhỏ trong làng cùng hương lão và nhân dân rất vui mừng. Họ cho là trời phật ban cho chuông quý, liền làm lễ kéo chuông lên bờ và rước vào chùa. Khi thỉnh tiếng chuông vang lên âm thanh trong sáng, tiếng vang xa hàng vạn dặm, dân tình các nơi nghe thấy đều phấn chấn. Tiếng chuông vang xa đến tận Bắc quốc, khiến cho báu vật của người Nam lưu lạc ở xứ Bắc trỗi dậy tìm về. Vì sợ mất hết báu vật cướp được của người Nam nên chúng sang đất Việt, đóng giả các cao tăng đến chùa, mưu lấy cắp chuông vàng. Các tăng ni trong chùa biết được dã tâm đó liền giấu chuông đi. Dần dần những người mang giấu chuông đều viên tịch hết, hậu thế muốn tìm lại chuông nhưng không biết ở đâu. Có người cho rằng, chuông vàng đã về với đất mẹ. Để tưởng nhớ chuông vàng đã từng ở chùa, các tăng ni cùng nhân dân liền đổi tên chùa thành Kim Chung tự (chùa Chuông vàng).
          Với những giá trị tiêu biểu, đặc sắc vốn có, chùa Chuông được Bộ Văn hoá, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã ra Quyết định số 97/QĐ xếp hạng là “Di tích Kiến trúc nghệ thuật” cấp quốc gia vào ngày 21/01/1992, và là một trong 16 di tích thuộc Khu di tích Phố Hiến - “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích

Chùa là nơi thờ Phật nhằm hướng con người tới điều thiện và xóa bỏ phiền muộn. Bậc giáo chủ được thờ tự phổ biến tại các chùa Đại Thừa miền Bắc Việt Nam là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – một nhân vật lịch sử có thật, người khai sáng Phật giáo. Ngài vốn là Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Đa của nước Shakya (Ấn Độ cổ đại), sinh năm 563 TCN và mất năm 483 TCN. Truyền thuyết kể rằng lúc giáng sinh, Ngài đi bảy bước nở hoa sen và tuyên bố là bậc tôn kính nhất thế gian; ngay từ nhỏ đã sở hữu 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Dù sống trong nhung lụa và kết hôn năm 16 tuổi, nhưng sau bốn lần ra cửa thành chứng kiến cảnh Già, Bệnh, Chết và một Vị tu sĩ, Ngài đã nhận ra bản chất của "Khổ" và tìm thấy lối thoát cho chúng sinh.

Năm 29 tuổi, sau khi con trai La Hầu La chào đời, Thái tử quyết định rời hoàng cung để đi tu khổ hạnh. Nhận thấy phương pháp cực đoan này không đem lại kết quả, Ngài từ bỏ và chuyển sang thiền định dưới gốc cây Bồ đề. Sau 49 ngày đêm vượt qua sự quấy nhiễu của Ma vương, Ngài đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Trong suốt 45 năm sau đó, Ngài đi khắp Ấn Độ thuyết giảng về Tứ diệu đế, Duyên khởi và Luật nhân quả, cảm hóa mọi tầng lớp xã hội mà không phân biệt giai cấp.

Năm 80 tuổi, Đức Phật nhập Niết bàn tại rừng Sa La vào ngày rằm tháng 2 năm 483 TCN. Trước khi viên tịch, Ngài để lại lời dặn lịch sử: "Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, lấy pháp làm đuốc, nương pháp mà tự giải thoát". Sau lễ hỏa táng với nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, xá lị của Ngài được chia làm 8 phần thờ tại các bảo tháp, còn lời dạy của Ngài được các đệ tử kết tập thành các bộ Kinh Phật lưu truyền đến ngày nay.

Ở Việt Nam hình dáng của ngài được tạc ở bốn tư thế:

Tượng Cửu Long (tượng Thích Ca Sơ Sinh) diễn tả khi ngài mới giáng sinh.

Tượng Tuyết sơn: diễn tả khi ngài đang tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn.

Tượng Thuyết pháp: diễn tả khi ngài đang ngồi thuyết pháp.

Tượng Niết bàn: diễn tả khi ngài đang từ từ vào cõi Niết Bàn.

Mặc dù cuộc đời Đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học - vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến - cũng đều nhất trí công nhận Đức Phật là một nhân vật lịch sử và người đã khai sáng Phật giáo. Hầu hết các chùa ở miền Bắc theo phái Đại Thừa đều thờ phật Thích Ca làm giáo chủ.


ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

          Chùa khởi dựng từ xa xưa gắn liền với truyền thuyết quả chuông vàng. Đến năm 1702 và 1711, chùa được đại trùng tu với quy mô lớn và hoàn chỉnh mang dấu ấn kiến trúc chùa Việt Nam thời Hậu Lê. Qua những biến cố của lịch sử cùng sự bào mòn của thời gian, chùa Chuông đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo. Hiện nay, Chùa có kết cấu kiểu “Nội Công ngoại Quốc” liên hoàn, cùng “Tứ thuỷ quy đường” gồm nhiều hạng mục: Tam quan, nhà Tiền, Tiền đường, Thượng điện, hai dãy hành lang, nhà thờ Đức vua Thần nông, nhà Tổ và nhà Mẫu. Các hạng mục được bố trí đăng đối, hài hòa trên trục đối xứng từ Tam quan đến nhà Tổ mang đậm dấu ấn kiến trúc, mỹ thuật thời Lê đan xen thời Nguyễn.
          - Tam quan: Đến thăm chùa Chuông, từ ngoài vào công trình kiến trúc đầu tiên ta gặp là Tam quan, có chiều dài 14m, được xây kiểu chồng diêm 3 tầng 12 mái với dáng vẻ uy nghi, hài hoà. Tam quan ngoài ý nghĩa ba cửa để ra vào chùa, nó còn mang ý nghĩa là ba lối nhìn, cách nhìn. Cho nên, Tam quan là ba nhận thức hay ba cách nhìn về giáo lý nhà Phật đó là Không quan, Giả quan và Trung quan.
          - Cầu đá, ao chùa và đường “linh đạo”: Qua cổng bước xuống năm nhịp là cầu đá xanh dài 10m, rộng 2,2m. Cầu được lắp từ những phiến đá dài 2m. Đây được coi là cầu “giác” có nghĩa khi con người ta vượt qua cầu này để đi vào chùa là đi trên dòng trí tuệ để giác ngộ, mà đạo phật dạy rằng nhờ có trí tuệ mới đi đến giác ngộ và có giác ngộ thì mới đi đến giải thoát được.
Phía dưới cầu là một ao nhỏ hình chữ nhật, chiều rộng 3,7m, chiều dài 22,9m. Ao được ngăn đôi bởi cây cầu đá xanh. Ngự ở hai đầu cầu là sáu con nghê, chồn, sư tử, lân làm bằng đá, con nhỏ nhất có chiều dài khoảng 52cm, con lớn nhất có chiều dài chừng 110cm.
          Con đường từ Tam quan, qua cầu đá nối tiếp đến sân chùa và Nhà tiền là con đường duy nhất dẫn người ta tới sự giải thoát, gọi là “Nhất chính đạo”, đó còn được gọi là đường “linh đạo”.
          - Nhà Tiền: Tiếp giáp với sân chùa là Nhà tiền, đây là nơi đặt ban thờ Hậu và nơi nhà chùa tiếp khách, được làm theo kiểu bốn mái truyền thống. Nhà tiền gồm 05 gian 02 chái. Các bộ vì chính được tạo tác kiểu vì kèo trụ trốn với bốn hàng chân cột song song.
          - Tiền đường: Tiền đường cách nhà Tiền khoảng sân rộng 2,5m được lát gạch vuông. Khoảng sân này gọi là “Thiên tỉnh”, để lấy ánh sáng, sinh khí của trời.
          Tiền đường gồm 05 gian 02 chái, được làm theo kiểu bốn mái truyền thống. Bộ khung chịu lực được định vị khá vững chắc bởi các bộ vì kèo và được làm giống nhau theo kiểu kèo cầu chống báng. Hệ thống bẩy được chạm khắc các đao mác, thuỷ ba xen lẫn với một vài con thú. Nhìn chung, kết cấu kiến trúc có sắc thái giản dị, chắc chắn, thanh nhã nhưng vẫn uy nghiêm.
          - Thượng điện: Nối với gian chính giữa của toà Tiền đường là Thượng điện, đây là nếp nhà dọc 05 gian với hai cấp nền. Chiều dài thượng điện 10,5m và chiều rộng là 7m. Toà này được làm theo lối tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi. Hai cấp nền cách nhau 0,35m. Thượng điện có 6 bộ vì kết cấu giống nhau làm theo kiểu vì kèo đơn giản. Dưới các bộ vì có treo các bức cửa võng chạm thủng các đề tài khác nhau như: Tứ quý hoá tứ linh, lưỡng long chầu nhật xen với tứ linh, phù dung chim trĩ,…
          - Hai dãy hành lang: Nối với hai gian cạnh của nhà Tiền là hai dãy hành lang chạy dọc song song hai bên Thượng điện và gian cuối nối với khu nhà thờ Đức vua Thần Nông. Mỗi bên hành lang gồm 10 gian. Toà này kết cấu hai hàng chân cột với các bộ vì kèo được làm theo kiểu “biến thể cột ván”. Các cấu kiện kiến trúc được bào trơn, đóng bén không trang trí hoa văn.
Hai gian cuối của hai dãy hành lang được làm kiểu chồng diêm hai tầng tám mái tạo thành gác treo chuông và khánh. Các đầu đao được đắp uốn cong cách điệu hình rồng mớm phượng tạo cho mái công trình mềm mại và thanh thoát.
          - Nhà thờ Đức vua Thần Nông: Cách Thượng điện một khoảng sân rộng 1,5m là đến khu thờ Đức vua Thần Nông. Đây là một tòa nhà 05 gian với chiều dài 10m, rộng 5m. Hai gian bên giáp với hai gian cuối của hai dãy hành lang.
Tại gian giữa toà nhà là ban thờ Đức vua Thần Nông. Vị thần dậy dân làm ruộng, chăn nuôi, trồng trọt lúa nếp, dâu tằm. Gian bên trái là ban thờ vị tổ ni của chùa và gian bên phải là ban thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát.
          - Nhà Mẫu: Tiếp giáp với khu thờ chính là khoảng sân rộng lát gạch. Sau khoảng sân là đến nhà Mẫu gồm 05 gian được làm theo kiểu tường hồi bít đốc.
          - Nhà Tổ: Nằm ở phía phải nhà Mẫu. Toà này gồm 5 gian, kiến trúc kiểu tường hồi bít đốc. Tại gian giữa bài trí ban thờ hai vị sư tổ của chùa.
          - Giếng chùa và khu vườn tháp: Giếng chùa và khu vườn tháp nằm bên trái các công trình kiến trúc theo hướng chùa. Giếng chùa có dạng hình tròn, có tường bao quanh và bậc lên xuống.
di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Hiện tại, chùa Chuông còn lưu giữ nhiều cổ vật, hiện vật rất có giá trị về mặt mỹ thuật cũng như lịch sử- văn hoá, đó là các bức đại tự, câu đối, chuông đồng, khánh đá… với nội dung phong phú, sâu sắc, đậm tính nhân văn. Tiêu biểu là các di vật như: cầu đá xanh, cây hương đá (Thạch Thiên đài) được làm năm Chính Hoà thứ 23 (1702), quý hiếm hơn là tấm bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711). Đặc biệt, chùa Chuông nổi tiếng bởi hệ thống tượng Phật phong phú, đặc sắc như: Thập Bát La Hán, Thập Điện Diêm Vương cùng bộ Tứ Trấn và Bát Bộ Kim Cương. Mỗi pho tượng mang một sắc thái, dáng vẻ khác nhau, được các nghệ nhân đương thời tạo tác rất công phu, sống động và uyển chuyển. Đây là những di sản văn hoá vô giá, là nguồn sử liệu quý cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về di tích, địa danh và lịch sử của Phố Hiến xưa.

  • Chuông Kim Chung tự ký

    Chuông Kim Chung tự ký thuộc loại Đại Hồng Chung thường đánh ...

  • Bia

    Bia Kim Chung tự thạch bi kí - Nhân Dục xã cổ ...

  • Khánh

    Khánh được treo ở gác khánh gian cuối của dãy hành lang ...

  • Cây hương đá (Thạch thiên đài).

    Cây hương được dựng tại khoảng sân phía trước tòa Tiền đường ...

  • Tượng La Hán

    Mười tám vị La Hán được bài trí ở hai dãy hành ...

  • Tượng La Hán

    Mười tám vị La Hán được bài trí ở hai dãy hành ...

  • Tượng Bát Bộ Kim Cương

    Bát Bộ Kim Cương (Tám vị thiên tướng) tạc trong tư thế ...

  • Tượng La Hán

    Mười tám vị La Hán được bài trí ở hai dãy hành ...

  • 1

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Ngoài những ngày tuần, rằm thông thường, chùa Chuông có những ngày lễ chính trong năm như sau:
Ngày lễ Phật Đản (15/4 âm lịch): đây chính là lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật.
Ngày lễ Vu lan (15/7 âm lịch): Đây gọi là mùa Vu Lan báo hiếu. Lễ này kết hợp với tín ngưỡng bản địa là thờ cúng tổ tiên và xá tội vong nhân. Trong lễ này, mọi người đều tụng kinh niệm phật, từ chú cầu siêu độ cho gia tiên, đồng thời cầu siêu cho những vong hồn uổng tử, bơ vơ không nơi đèn nhang hương khói. Lễ dâng hương với nghi thức “lục cúng tiên” dâng sáu thứ hương, hoa, đăng, trà, quả, thực và được diễn ra trong nghi thức trang trọng.
Ngày giỗ tổ (29/9 âm lịch): Ngày giỗ tổ hàng năm bên cạnh phần lễ còn là một ngày hội của chùa và nhân dân địa phương.

Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ