ĐỀN MÂY

Địa chỉ: Khu phố Đằng Châu, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên

GIỚI THIỆU CHUNG

Đền Mây tọa lạc tại khu phố Đằng Châu, phường Sơn Nam (trước đây là phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Xưa kia, nơi đây là vùng vạn chài Xích Đằng với bến đò Mây, thuyền bè ra vào buôn bán tấp lập. Trước cửa đền là cây đa cổ thụ vài trăm năm tuổi. Xa xa là dòng sông Hồng cuộn chảy mang phù sa bồi đắp cho vùng đất này làm cây trái tốt tươi, với vị trí đắc địa tạo nên cảnh vật nơi đây hữu tình, thơ mộng đã đi vào câu ca: “Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh, đò Mây”.
Đền Mây đã được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia theo Quyết định số 97/QĐ ngày 21/01/1992, và là một trong 16 di tích thuộc Khu Di tích Phố Hiến – “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích
Đền tôn thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ, một nhân vật lịch sử có nhiều cống hiến trong thời kỳ đầu xây dựng nền độc lập tự chủ (thế kỷ X). Ông sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910). Thân phụ là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Phạm Lệnh Công đến Đằng Châu, tổng An Tảo, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam Thượng định cư, làm ăn và sinh sống. Tương truyền, mẹ ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên sau khi sinh đã đặt tên ông là Bạch Hổ.
Ngay từ nhỏ, Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng ham học, có tư chất thông minh, tính tình nóng nảy, cương trực. Lớn lên, Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Ông từng làm Hào trưởng đất Đằng Châu, là tướng tài của Dương Đình Nghệ và có công phù giúp Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938). Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa, Bạch Hổ lui về vùng đất Đằng Châu, bảo vệ an ninh cho vùng xung yếu này. Đến thời Hậu Ngô Vương, ông được phong làm Phòng át, trấn giữ vùng biển Hải Đông. Phạm Bạch Hổ về Đằng Châu xây dựng lũy thành làm lỵ sở. Ngoài ra, ông còn giúp dân khai khẩn đất hoang, mở mang đồng đất, cấy trồng làm cho dân trong vùng được no ấm. Khi Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt nổi lên cát cứ từng vùng. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu và là một trong 12 sứ quân thời đó.
Vào năm 968, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh giương cao ngọn cờ đại nghĩa, thu phục được 12 sứ quân, lên ngôi ở Hoa Lư (Ninh Bình), lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, lập ra nước Đại Cồ Việt. Phạm Bạch Hổ nhanh chóng nhận ra sức mạnh chính nghĩa của nghĩa quân Hoa Lư và cũng là sức mạnh của chính nghĩa thống nhất đất nước nên ông đã quy thuận. Phạm Bạch Hổ được Vua Đinh phong đến Thân Vệ tướng quân và ông đã lập được nhiều công lao trong sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Tiên Hoàng. Phạm Bạch Hổ mất ngày 16 tháng 11 năm 983, ông được vua Lê phong là Đằng Vương, sắc cho dân lập đền thờ ở quân doanh và suy tôn ông làm Thành hoàng. Đền vừa dựng xong, Vua Lê phong ông là “Khai thiên Hộ quốc Thượng đẳng tối linh thần”.
Tương truyền, thần rất linh thiêng có thể khiến cho bên này sông tạnh, bên kia sông mưa nên có thơ rằng:

Khen thay Đại vương rất linh thiêng
Đằng Châu nhờ vả được bình yên
Khiến cho mưa gió không xâm phạm
Bên mưa, bên tạnh rõ hai miền.

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

Tương truyền, đền Mây được khởi dựng từ rất sớm. Theo nội dung các bản thần tích và ghi chép của “Đại Nam nhất thống chí” thì ban đầu đền được dựng ở ngoài đê. Khoảng năm Thống Nguyên (1522 - 1527) thời Lê Cung Hoàng dòng sông lở nên dân làng dời đền vào phía bên trong đê, tức vị trí hiện nay.       
Hiện tại, đền Mây có kết cấu kiến trúc hình chữ tam (≡) gồm: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung với các hạng mục và cấu kiện kiến trúc còn tương đối nguyên trạng từ cuối thế kỷ XIX. Đền có mặt tiền hướng Đông Nam, phía đông của đền là ngôi chùa Đằng Châu cổ kính.
Tòa Tiền tế gồm ba gian được xây kiểu đầu hồi bít đốc. Từ ngoài nhìn vào, đền vẫn giữ được hình thức với bộ mái lớn. Hai đầu hiên đặt bốn tấm bia đá có niên đại thời Nguyễn. Nội dung các tấm bia ghi chép về sự đóng góp của nhân dân thập phương trong quá trình trùng tu, tôn tạo đền. Các bộ vì chính tòa này được tạo tác kiểu vì “chồng rường giá chiêng con nhị” còn vì nách làm kiểu chồng rường. Trên các cấu kiện kiến trúc như: con rường, đấu,.. chạm khắc đề tài rồng, phượng, vân xoắn, đao lửa, hoa lá cách điệu được khắc hoạ đẹp, khá đa dạng, sinh động và tinh tế, vừa sống động gần gũi, vừa linh thiêng với việc sử dụng nhiều kỹ thuật chạm điêu luyện, mang đậm dấu ấn mỹ thuật cuối thời Hậu Lê và đầu thời Nguyễn. Ở gian chính giữa có treo bức châm chữ Hán ghi lại bài thơ của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh viết vào năm Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898) nhân dịp trùng tu đền. Nội dung bài châm tạm dịch như sau:

         Ngô trước, Đinh sau việc đã qua
         Đằng Châu sự nghiệp cũng phai nhòa
         Ngoảnh nhìn dâu bể ngàn năm đó
         Còn lại tôn nghiêm bẩy chục tòa.
         Các triều phong tặng đều linh ứng
         Nửa dòng sông tạnh, nửa dòng mưa
         Đến nay chung sức trùng tu miếu
         Danh tiếng Sơn Nam đệ nhất bia.

Tòa Trung từ gồm 05 gian cũng được xây dựng kiểu đầu hồi bít đốc, song song với tòa Tiền tế nhưng nền cao hơn. Toàn bộ phần mái được đỡ trên hệ thống sáu bộ vì lớn kiểu giá chiêng hai hàng chân cột, các cột được làm bằng gỗ lim, kê trên các chân tảng đá lớn. Các bộ vì hai bên phần lớn được bào trơn hình họa trang trí ít, nhưng riêng hai bộ vì gian giữa Trung từ được chạm khắc rất công phu, cầu kỳ và tinh xảo. Các đầu dư, con rường đều được chạm khắc hình vuông, đao lửa, hoa lá, đao mác mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Phía dưới của các bẩy với cột quân được chèn một ván gỗ tạo tác kiểu nghé cách điệu và trang trí hoa văn chữ Triện.
Chính giữa gian Trung từ là một ban thờ, trên đặt ba cỗ ngai và bài vị tướng quân Phạm Bạch Hổ, thân mẫu của ông và một vị ghi là Hoàng Tử. Có ý kiến cho rằng đây là bài vị của con trai Phạm Bạch Hổ, nhưng cũng có ý kiến khác rằng đây là bài vị của Ngô Xương Văn (con trai Ngô Quyền) được Phạm Bạch Hổ đưa về trốn ở Đằng Châu khi Dương Tam Kha cầm quyền chính.
Tòa Hậu cung gồm ba gian kiểu tường hồi bít đốc, kết cấu các bộ vì kiểu chồng rường con nhị đơn giản, các cấu kiện kiến trúc để trơn, không chạm trổ hoa văn. Tại trung tâm Hậu Cung là khám thờ lớn, trong có ba pho tượng là: tượng của Phạm Bạch Hổ, thân mẫu và phu nhân của ông.
Có thể nói, đền Mây là một công trình kiến trúc cổ có quy mô tương đối lớn, có niên đại thời Hậu Lê đan xen Nguyễn còn vững chắc. Các hạng mục và cấu kiện kiến trúc khá đồng bộ, có nhiều mảng chạm khắc đẹp với việc sử dụng nhiều kỹ thuật chạm góp phần đưa chạm khắc trang trí trên các cấu kiện của kiến trúc đền Mây đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật chạm khắc đầu thế kỷ XIX. Đây là ngôi đền cổ có giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc nằm trong Khu di tích Phố Hiến - Hưng Yên mà qua thời gian còn bảo lưu được tương đối nguyên vẹn đến ngày nay. Di tích đền Mây là nguồn sử liệu quý để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu bổ sung vào kho tư liệu của mình  khi nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thế kỷ thứ X và lịch sử hình thành và phát triển của Phố Hiến xưa.
di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Hiện nay, đền Mây còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị lịch sử - văn hóa và mỹ thuật. Nổi bật là hệ thống tượng thờ, hoành phi, câu đối, đại tự, kiệu bát cống, bia ký, 18 đạo sắc phong triều Lê, Nguyễn. Trong đó, nổi bật là bức châm thư có niên hiệu Thành Thái 4 (1898) do Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn Chu Mạnh Trinh, Án sát sứ Hưng Yên đề bút miêu tả cảnh đẹp nơi đây và huyền tích về sự linh thiêng của ngôi đền. Đây là những di sản văn hoá vô giá rất cần được gìn giữ, bảo vệ và khai thác, phát huy giá trị
  • Sắc phong (1844)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Sắc phong (1880)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Sắc phong (1850)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Sắc phong (1844)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Sắc phong (1850)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Lệnh chỉ của chúa Trịnh Doanh năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745)

    Lệnh chỉ được viết trên chất liệu giấy dó, có dạng hình ...

  • Lệnh chỉ của chúa Trịnh Doanh năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762)

    Lệnh chỉ được viết trên chất liệu giấy dó, có dạng hình ...

  • Lệnh chỉ của chúa Trịnh Sâm năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768)

    Lệnh chỉ được viết trên chất liệu giấy dó, có dạng hình ...

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Lễ hội đền Mây được tổ chức vào các ngày 10 tháng Giêng và 16 tháng tháng 11 âm lịch để tưởng nhớ ngày sinh và ngày hóa của Tướng quân Phạm Bạch Hổ. Ngày 16 tháng 11 là lễ hội chính.

Xưa kia, vào dịp lễ tiết và hội chính, 5 giáp thôn Đằng Châu gồm: Giáp Cả, giáp Nhì, giáp Ba, giáp Tư và giáp Nội luân phiên nhau tổ chức. Giáp nào đến lượt đương cai phải chuẩn bị lễ vật dâng cúng.

Từ ngày mồng 10 đến 16 tháng 11, giáp đương cai phải chuẩn cỗ ngọc gồm: cá trắm đen to, lợn quay, chè đông, bánh giầy. Cá trắm đen phải chọn con to nhất được nuôi ở hồ rộng, sạch sẽ, không cho ăn tạp bẩn. Cá rán cả con (không xắt khúc đánh vẩy). Lợn dâng cúng phải chọn con đầu đàn, nuôi sạch sẽ. Sau khi mổ, làm sạch, cho vào chảo lớn quay vàng. Lợn để nguyên cả con, rước cùng cá trắm ra đền. Bánh giầy và chè đông phải chọn loại gạo nếp cái, giã trắng, không lẫn gạo tẻ, giã trắng, hạt không vỡ,...

Người đứng đầu là đốc giáp, do giáp bầu ra, tuổi phải từ 50 trở lên, gia đình song toàn. Đốc giáp có trách nhiệm phân công mọi người trong giáp và tham gia cùng với Tiên, Thứ chỉ, Lý trưởng và Phó lý để tế lễ. Giáp đương cai phải chọn người rước cỗ ngọc và rước kiệu thần. Trang phục đoàn rước là áo lương, chít khăn đỏ. Tham gia rước kiệu phải là trai chưa vợ, gái chưa chồng. Trước lễ hội chính từ 1 đến 2 ngày, chức sắc trong làng, đốc giáp đương cai, thủ từ dâng lễ, sau đó bao sái đồ thờ, quét dọn đền,... Ngày mồng 9 tháng 11 làm lễ cáo yết cho phép mở lễ hội. Lễ vật dâng cúng trong ngày này là gà, xôi, hoa quả,...

Buổi tế chính ở đền vào sáng ngày 16 tháng 11. Đội tế gồm 12 người, chủ tế là Tiên, Thứ chỉ. Trang phục tham dự tế là quần trắng, áo dài đen, khăn xếp, giầy vải. Các vị bồi tế, hầu tế được chọn trong các giáp.

Sau lễ tế, làng tổ chức lễ rước thần du ngoạn quanh làng. Đi đầu là đội múa sư tử, tếp đến là cờ quạt, nhang án, kiệu thánh, kiệu cỗ ngọc, quan viên, dân làng. Đoàn rước đi quanh làng và trở về đền. Kết thúc lễ rước vào buổi trưa, các giáp mang lễ vật về chia phần cho các suất đinh trong giáp của mình; riêng cỗ ngọc phải để lại một phần để Hương lý, kỳ hào thụ lộc tại đền. Ngày hôm sau, chức sắc trong làng lễ tạ, kết thúc lễ hội.

Trong những ngày diễn ra lễ hội, các gia đình trong làng đều sắm sửa lễ vật dâng cúng. Lễ vật dâng thường là xôi, gà, thủ lợn, hoa quả,...

Ngoài phần lễ, nhân dân còn tổ chức hội làng với nhiều trò chơi, trò thi như tổ tôm điếm, múa võ, đấu vật, hát chèo ngoài nghi môn, hát ca trù trong đền,... đông vui, náo nhiệt.

Lễ hội đền Mây được tổ chức đến năm 1945 thì bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác. Đến năm 1992, sau khi đền Mây được được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia (theo Quyết định số 97/QĐ ngày 21/01/1992), thì chính quyền và nhân dân địa phương đã khôi phục lại lễ hội theo trình tự, nghi thức như xưa. Tuy quy mô lễ hội có phần khác biệt, nhưng vẫn đảm bảo sự trang trọng, thành kính tưởng nhớ đến các bậc tiền nhân. Tuy nhiên, sau khi được khôi phục thời gian diễn ra lễ hội rút ngắn lại còn ba ngày từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 11 (Âm lịch) hằng năm.

Mở đầu lễ hội vào ngày 15 tháng 11, Ban Quản lý di tích cùng Nhân dân địa phương tiến hành làm lễ cáo yết tại đền Mây và mộ phần của Đức Thánh Phạm Bạch Hổ (thôn Ngọc Đồng, xã Hiệp Cường, tỉnh Hưng Yên). Nghi lễ cáo yết không chỉ đơn thuần là một thủ tục mở màn, mà còn là khoảnh khắc giao hòa linh thiêng giữa thực tại và quá khứ. Đó là lời thưa gửi chân thành, là nhịp cầu tâm linh kính cẩn mời vị Thánh quân về ngự lãm, chứng giám lòng thành và ban phúc lành cho dân làng được bình an, một năm thuận lợi, mùa màng bội thu,... Lễ vật dâng lên Thánh gồm xôi, gà, thủ lợn, hoa quả,... đều là những sản vật của địa phương được bày biện chỉnh chu, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và khát vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Sáng ngày 16 tháng 11, sân đền như bừng tỉnh trong bầu không khí hân hoan, rạng rỡ. Giữa làn hương trầm quyện tỏa, những gương mặt thân quen của Nhân dân địa phương hòa cùng bước chân của du khách, tất cả cùng tề tựu dưới mái ngói rêu phong để tìm về nguồn cội. Trong giây phút lắng đọng ấy, những trang sử vẻ vang về công lao của Đức Thánh Mây lại được tái hiện, như một lời nhắc nhở thiết tha về lòng tận hiến với non sông và mảnh đất quê hương. Buổi lễ  không chỉ là dịp để tri ân, mà còn là một cuộc hành trình tâm thức, nơi mỗi người dân Đằng Châu cùng nhau thắp sáng ngọn lửa truyền thống, dệt nên sợi dây bền chặt để gìn giữ bản sắc văn hóa và bồi đắp tinh thần yêu nước nồng nàn cho muôn đời sau.

Khi những thanh âm hào hùng về công đức của Đức Thánh vừa lắng lại, không gian ngôi đền bước vào những giây phút trang trọng và thiêng liêng nhất: Nghi thức tế lễ của đội tế nam. Đây là buổi tế chính được cử hành một cách chuẩn mực, bài bản, theo nghi thức truyền thống và thực hiện qua các bước: Khởi tuần hương đăng, sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ và lễ tất. Trong trang phục tế lễ rực rỡ sắc mầu truyền thống, các bậc cao niên bước đi những bước chân khoan thai, đĩnh đạc, tái hiện một nét đẹp văn hóa đã được hun đúc qua hàng thế kỷ.

Trong những ngày làng mở hội, không gian ngôi đền không chỉ trầm mặc trong khói hương mà còn bừng lên sức sống mãnh liệt thông qua các hoạt động giao lưu văn nghệ, các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ tướng,… thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân và du khách.

Sáng ngày 17 tháng 11, khi những dư âm rộn ràng của hội hè dần lắng lại, không gian đền Mây trở về với vẻ tĩnh lặng, uy nghiêm để cử hành nghi thức Lễ tạ khóa. Đây là thời khắc cộng đồng cùng dâng lời tri ân sau một mùa hội viên mãn. Nghi thức tế tạ do đội tế nữ thực hiện. Lời khấn nguyện thiết tha vang lên không chỉ bày tỏ lòng biết ơn Đức Thánh đã cho dân làng được tổ chức một khóa hội thành công, mà còn bày tỏ ước vọng mong Đức Thánh linh thiêng phù trợ cho mưa thuận gió hòa, cho lúa vàng nặng hạt đầy sân, cho người già mạnh khỏe, và cho lớp lớp cháu con bền chí học hành, bảng vàng rạng rỡ. Khi tuần hương cuối dần tàn, lễ hội khép lại nhưng niềm tin và sức sống văn hóa vẫn rạo rực chảy trong huyết quản mỗi người, hứa hẹn một năm mới sung túc và bình an.

Không dừng lại ở không gian riêng của làng xã, lễ hội đền Mây còn hòa cùng nhịp đập rộn rã của Lễ hội Văn hóa Dân gian Phố Hiến vào mỗi độ tháng Ba âm lịch. Hình ảnh đoàn rước kiệu của đền Mây hòa vào dòng người rực rỡ cờ hoa, diễu hành qua những con phố cổ kính, đã tạo nên một bức tranh hội tụ linh thiêng, nơi các giá trị di sản được cộng hưởng và lan tỏa mạnh mẽ giữa lòng mảnh (đất địa linh nhân kiệt).

Vượt lên trên những nghi thức tôn giáo thông thường, lễ hội đền Mây chính là một “nguồn tư liệu sống” vô giá, một viên ngọc sáng trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Mỗi nén tâm hương dâng lên, mỗi điệu tế, câu hát đều là minh chứng sống động cho đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” - mạch nguồn tâm linh bền bỉ chảy trong huyết quản người dân Hưng Yên và mỗi người con đất Việt. Giữa dòng chảy hối hả của thời đại, lễ hội vẫn đứng đó như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng hiếu nghĩa, về trách nhiệm gìn giữ hình hài và hồn cốt của tổ tiên, để bản sắc văn hóa Việt mãi mãi trường tồn cùng thời gian.

Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ