Đền Nam Hòa tọa lạc trong khuôn viên rộng 109 m2, trên khu đất cao ráo tại đường Bãi Sậy, khu phố chùa Chuông, phường Phố Hiến (trước đây là phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Tương truyền, phố Nam Hoà xưa là khu phố của người Việt và người Nhật cùng sinh sống, thuộc địa phận đô thị cổ Phố Hiến.Đền Nam Hòa được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên ra Quyết định số 2479/QĐ-UBND xếp hạng là “Di tích Lịch sử” cấp tỉnh ngày 23/12/2013, và là một trong 16 di tích thuộc Khu di tích Phố Hiến - “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
Theo lời kể của các cụ cao niên tại địa phương thì đền Nam Hoà được khởi dựng từ thời Nguyễn và nằm trên diện tích rộng 720m2 với nhiều cây cổ thụ bao quanh. Đền toạ lạc trên thế đất hình con Quy với mặt chính nhìn về hướng Đông. Trong lần xây dựng này, đền có quy mô to, đẹp với kết cấu kiến trúc gồm bốn toà được làm hoàn toàn từ vật liệu gỗ chắc khoẻ. Trải qua thời gian và biến động của lịch sử, ngôi đền bị phá dỡ nhiều hạng mục công trình. Năm 1991, chính quyền và nhân dân địa phương phục dựng lại 03 gian nhỏ trên nền toà Hậu cung trước kia. Năm 2010, nhân dân tiến hành đại trùng tu ngôi đền.Hiện nay, đền Nam Hòa có kiến trúc kiểu chữ Nhất gồm 03 gian được làm kiểu bốn mái theo phong cách kiến trúc truyền thống. Tại gian trung tâm đền đặt khám thờ sơn son thếp vàng, chạm nhiều đề tài trang trí như: Lưỡng long chầu nhật, tứ linh, hoa dây, cuốn thư, cổ đồ,... Trong khám bài trí tượng thờ của ba vị thần, đều được tạc trong tư thế ngồi trên bệ: Vị ngồi giữa là tượng Đức Thiên Quan, có kích thước lớn hơn hai vị ngồi bên. Đầu tượng đội mũ cánh chuồn, sắc mặt hồng nghiêm nghị, râu dài, tay phải cầm đao và tay còn lại để trên đầu gối. Cạnh về bên phải tượng Đức Thiên Quan là ngựa gỗ màu đỏ.Vị ngồi bên phải là Thổ Địa Long thần với sắc mặt hồng, nét mặt hiền từ, dâu dài, hai tay để trên đùi, đầu đội mũ cánh chuồn. Bên cạnh tượng là ngựa gỗ màu đen.Vị ngồi bên trái là Đức Thuỷ phủ với đầu đội mũ cánh chuồn, sắc mặt hồng, râu dài, tay phải tượng kết ấn để trên lòng đùi. Ngay cạnh ngài là con bạch mã trông rất sinh động.Bên cạnh đó, nằm về hai bên ban thờ ba vị còn bài trí ban thờ tam phụ thân và tam phụ mẫu, là những người đã có công sinh thành các vị thần.
Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...
Đền Nam Hòa là không gian tín ngưỡng linh thiêng thờ phụng Tam vị thiên thần gồm Đức Thiên Quan, Đức Thổ Địa Long Thần và Đức Thủy Phủ – những đấng linh thiêng tượng trưng cho ba yếu tố căn bản của vũ trụ: Trời, Đất và Nước. Trong cảm thức văn hóa dân gian, đây không chỉ là ba lực lượng chi phối thế giới tự nhiên mà còn là điểm tựa tinh thần gắn bó mật thiết với đời sống sinh tồn của cư dân vùng châu thổ sông Hồng. Tín ngưỡng thờ phụng tam vị thần ở Đền Nam Hòa vì thế mang dấu ấn sâu đậm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, giữa niềm tin tâm linh và thực tiễn lao động sản xuất. Qua bao thế hệ, việc dâng hương tưởng niệm và gửi gắm ước nguyện nơi cửa đền không chỉ là hành vi tín ngưỡng, mà còn là cách cộng đồng bày tỏ khát vọng về một cuộc sống yên ổn, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, đồng thời gìn giữ ký ức văn hóa và bản sắc của làng quê ven sông Hồng trong dòng chảy của thời gian. Xưa, hàng năm lễ hội truyền thống của Đền Nam Hòa diễn ra hai kỳ lễ: Kỳ lễ xuân vào ngày 10 tháng 3 âm lịch và kỳ lễ thu vào ngày 10 tháng 8 âm lịch. Làng có quy định cứ ba năm tổ chức đại lễ một lần đã thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương về chiêm bái, tham dự. Trước ngày khai hội, công tác chuẩn bị và không khí vui tươi của lễ hội tràn ngập khắp đường làng, ngõ xóm. Ngoài đền, khuôn viên được quét dọn sạch sẽ, trang hoàng cờ quạt phấp phới. Trong đền, ban khánh tiết phân công người bao sái đồ thờ tự, lắp ghép kiệu rước và chuẩn bị các mâm lễ để khai hội dâng lễ thánh thần. Lễ dâng thần là lễ mặn, gồm: xôi, rượu, gà, lợn quay cùng hương hoa phẩm quả, hương đèn vàng nến. Các dòng họ đăng kí dâng lễ ngày khai hội đăng ký với thủ nhang. Đội tế của làng chuẩn bị trang phục, hài hia đai mũ và tập luyện các nghi thức tế lễ cho nhuần nhuyễn sẵn sàng cho ngày khai hội. Những người tham gia đội tế phải là những người có đạo đức, uy tín và chức sắc, vai vế trong làng. Trước ngày tế lễ phải trai giới, tắm gội sạch sẽ. Tiên chỉ của làng giữ vai trò chủ tế, bồi tế. Xướng tế sẽ chọn những người có thứ hạng Hương trưởng trở lên. Sáng ngày khai hội, cửa đền được mở cửa từ sớm để đón tiếp nhân dân cùng du khách thập phương về thắp hương, dự lễ. Những mâm lễ đã chuẩn bị sẵn được dâng lên các ban thờ. Đại diện cho làng và Ban khánh tiết, ông Tiên chỉ đọc diễn văn khai hội, sau đó những mâm lễ được kính cẩn dâng lên các ban thờ. Các bậc chức sắc cùng các giáp tuần tự vào dâng hương. Khi thủ tục dâng lễ hoàn thành, đội tế mặc quần áo tế truyền thống, đai mũ chỉnh tề tiến hành tế lễ trong một tuần hương.
Sau khi các nghi thức tế lễ hoàn thành, từ sân đền dân làng tổ chức rước kiệu. Đội hình rước kiệu là những trai thanh gái tú chưa lập gia đình. Đi đầu đoàn rước là đội múa lân, cờ thần, chiêng trống, chấp kích. Kế đến là kiệu bát cống, cờ lọng đi hai bên. Đi sau là nhang án, lợn quay cả con, phường bát âm cùng đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Trai kiệu là những tráng đinh từ 18 tuổi trở lên, chưa vợ được làng tuyển chọn vào đội khiêng kiệu với trang phục kiểu binh phục cổ. Đội rước đi tới đâu chiêng trống vang lừng, cờ quạt phấp phới tới đó, tiếng cười nói nối tiếp tiếng hò vang của người theo sau. Tất cả tạo nên không khí vui tươi, một bức tranh lễ hội dân gian đậm chất thiêng của làng quê vùng sông nước. Kiệu rước xuất phát từ đền Nam Hòa, đi vòng quanh làng, vào đình Đông bái tế sau đó quay về đền làm lễ tế tạ và an vị. Khi các thủ tục được hoàn tất, ban khánh tiết bái tạ thánh thần xin được thụ lộc. Những mâm lễ vật được hạ xuống được phân phát cho những người có ngôi thứ trong làng và nhân dân địa phương. Trong những ngày trước và sau lễ hội, đền luôn được mở cửa để nhân dân đều có thể vào thắp hương thánh thần. Các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ tướng cùng tiếng reo hò, cổ vũ, những câu ca, điệu chèo vang lên từ ngôi đền càng thu hút đông đảo nhân dân về tham bái thánh thần.
Trải qua thời gian dài với bao biến động thăng trầm của lịch sử cùng với những đổi thay trong tư duy, tín ngưỡng thờ cúng nhưng lễ hội truyền thống đền Nam Hòa về cơ bản vẫn được nhân dân bảo tồn và duy trì thực hành tín ngưỡng tới ngày nay. Có thay đổi âu cũng chỉ là một vài thay đổi nhỏ để phù hợp với sự phát triển đi lên của xã hội cũng như những thay đổi trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Diễn ra vào thời điểm xuân thu nhị kỳ, khi nhịp sống lao động lắng lại, lễ hội truyền thống Đền Nam Hòa trở thành điểm tựa tinh thần để cộng đồng cư dân cùng hướng về không gian linh thiêng, thành kính tri ân các bậc thánh thần và sẻ chia những giá trị tinh thần bền vững. Không chỉ là dịp sinh hoạt tín ngưỡng quen thuộc của dân làng, lễ hội còn là sợi dây bó bện gắn kết tình người, nuôi dưỡng tinh thần cố kết cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong dòng chảy chung của lễ hội dân gian Phố Hiến, lễ hội Đền Nam Hòa ngày càng khẳng định vai trò là một sự kiện văn hóa – tín ngưỡng tiêu biểu, thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Quan trọng hơn, lễ hội góp phần hun đúc ý thức “ân cố tri tân”, khơi dậy lòng biết ơn cội nguồn, từ đó lan tỏa trách nhiệm gìn giữ di sản và chung tay xây dựng đời sống văn hóa – xã hội địa phương theo hướng phát triển bền vững, đậm đà bản sắc dân tộc./.