Văn miếu Xích Đằng (còn gọi là Văn miếu Hưng Yên) tọa lạc trên địa phận tổ dân phố Xích Đằng, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên. Văn miếu Xích Đằng là văn miếu hàng tỉnh, nơi đây từng diễn ra các kỳ thi Hương và ghi danh các nhà khoa bảng của trấn Sơn Nam xưa.
Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên) đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch) ký Quyết định số 3959 - VH/QĐ của ngày 02/12/1992 xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đồng thời, đây cũng là một trong 16 điểm di tích tiêu biếu thuộc di tích Quốc gia đặc biệt Khu di tích Phố Hiến, theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Văn miếu Xích Đằng là di tích thờ Đức Thánh Khổng Tử, thầy Chu Văn An và các bậc tiên hiền Nho học.
Khổng Từ (còn gọi là Khổng Phu Tử) tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Ngài sinh ngày 28 tháng 9 năm 551 trước Công nguyên dưới thời Chu Linh Vương tại Ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ thời kỳ Xuân Thu (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Ông là người nổi tiếng học cao, hiểu rộng. Nghiên cứu các loại Kinh, Thi, Thư, Lục, nghệ. Năm 30 tuổi ông đã trở thành bậc thầy nổi tiếng, học trò ngày càng đông. Ông vừa dạy học, vừa dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá tư tưởng, hiến kế với vua của các nước chư hầu dùng các tư tưởng đó. Những giáo lý của Nho giáo được tập trung trong Kinh truyện gồm: Tứ Thư và Ngũ Kinh. Do công trạng của mình sau khi mất ông được các triều đại phong kiến Trung Hoa nhiều lần ban tặng các tên thụy và danh hiệu khác nhau. Dưới triều Thanh, Khổng Tử còn được vua Khang Hy (1654-1722) ngự bút phong là “Vạn thế sư biểu”- người thầy tiêu biểu muôn đời. Trong hầu hết các Văn miếu, Khổng miếu ở khắp mọi nơi, bức hoành phi Vạn thế sư biểu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Khổng Tử có bốn người học trò giỏi là Mạnh Tử, Tử Tư, Nhãn Uyên và Tăng Sâm, thường được phối thờ cùng ông tại Văn miếu.
Phối thờ với Khổng Tử là thầy Chu Văn An - nhà giáo dục nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam dưới thời Trần. Chu Văn An quê ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc phường Thanh Liệt, Hà Nội). Ông là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Ông có công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam. Vua Trần Minh Tông (1300 - 1357) mời ông ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy học cho các con em trong hoàng tộc. Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh - Hải Dương), lấy hiệu là Tiều Ẩn (người đi ẩn hái củi), dạy học, viết sách cho tới khi mất.
Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của thầy giáo Chu Văn An là tấm gương tiêu biểu trong thời kỳ phong kiến Việt Nam. Ông cũng là một trong số ít bậc hiền nho được thờ ở Văn miếu Quốc Tử Giám, sự nghiệp của ông cũng được ghi trên văn bia tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Trân trọng tài năng nhân cách và sự cống hiến của ông, vua Trần Nghệ Tông đã ban ông tên thụy Văn Chinh Công rồi đưa ông về thờ tại Văn miếu cùng đức Khổng Tử.
Văn miếu Xích Đằng được xây dựng trên nền của ngôi chùa cổ Nguyệt Đường xưa trên khuôn viên rộng khoảng 9 mẫu Bắc Bộ (32.400m2), đến năm Minh Mạng thứ 20 (1839) được trùng tu lại với quy mô lớn như ngày nay.
Hiện tại, Văn miếu gồm các hạng mục: Tam quan, lầu Chuông, lầu Khánh, 02 dãy Giải vũ và Khu thờ chính hình chữ Tam. Các cấu kiện kiến trúc đều được làm bằng gỗ tứ thiết, chạm khắc tinh xảo với nhiều đề tài khác nhau.
Văn miếu môn được làm kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, đây là công trình cũ được giữ nguyên vẹn từ khi xây dựng cho đến nay. Ngày nay, Văn miếu môn được lấy làm biểu tượng của tỉnh Hưng Yên.
Qua Văn miếu môn vào đến sân có đường thập đạo. Sân Văn miếu xưa kia là nơi diễn ra các kỳ thi Hương hoặc là nơi sát hạch thí sinh đi dự thi Hương. Đường thập đạo lát gạch chỉ nghiêng, nổi cao hơn mặt sân chừng 10cm. Hai bên thập đạo là các công trình kiến trúc bộ phận được xây dựng đối xứng qua trục thần đạo; bao gồm các công trình sau đây: Tính từ ngoài vào mở đầu là lầu chuông bên phải, lầu khánh bên trái, chuông đồng và khánh đá với vai trò là đại khí quan trọng của Văn miếu; hai giải vũ mỗi dãy 05 gian, là nơi trưng bày, giới thiệu về nền giáo dục của Hưng Yên xưa và nay.
Khu thờ chính có kết cấu kiến trúc hình chữ Tam gồm: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung mỗi toà có 05 gian, kết cấu các bộ vì kiểu kèo cầu trụ trốn đơn giản. Các hạng mục được xây liền kề theo lối “Trùng thềm điệp ốc” mang dáng dấp cung đình Huế. Toà Trung từ là nơi đặt ban thờ và tượng thầy giáo Chu Văn An. Hậu cung là nơi bài trí ban thờ Đức Thánh Khổng Từ cùng ban thờ Tứ Phối.
Dọc hai gian giáp hồi của tòa Trung từ và Hậu cung đặt các di vật đặc trưng của Văn miếu là hệ thống bia Tiến sĩ.
Văn miếu Hưng Yên hiện lưu giữ một số hiện vật quý, có giá trị nhất là 09 tấm bia trong đó 08 tấm được dựng năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), 01 tấm được dựng năm Bảo Đại thứ 18 (1943). Chín tấm bia ghi danh 161 vị khoa bảng trong đó tỉnh Hưng Yên (cũ) có 138 vị, tỉnh Thái Bình (cũ) có 23 vị. Ngoài ra, Văn miếu còn lưu giữ chuông đồng (1804), khánh đá (1803), 02 pho tượng đồng của Khổng Tử và thầy giáo Chu Văn An cùng nhiều bức đại tự, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng.
Ở Hưng Yên, mặc dù số lượng Tiến sĩ khá lớn và nhiều người đỗ đạt sớm nhưng đến năm 1888, tám tấm bia Tiến sĩ mới đồng thời được lập. Ở tấm bia thứ 8, phần cuối bia ghi rõ bia được dựng ngày 21 tháng Giêng năm Mậu Tý, niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3 (1888). Những tấm bia Tiến sĩ này do “Cử nhân khoa Mậu Thìn đời Tự Đức, Đại phu Binh bộ, Hữu tham tri kiêm Đô sát viện, hữu phó Đô ngự sử, Tuần phủ Hưng Yên, Đề đốc quân vụ kiêm Lý Lương sướng tài gia, thư lý Tổng đốc hàm, lĩnh Tuần phủ kiêm Đông- Bắc- Hưng tam tỉnh, Tiễu phủ xứ, Thái xuyên hiệu Tùng Lâm cư sĩ Hoàng Cao Khải bái”.
Bia hình chữ nhật, cao 153cm, rộng 88cm, dày 12cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 143cm, rộng 84cm, dày 12cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 133cm, rộng 85cm, dày 12cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 142cm, rộng 88cm, dày 13cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 144cm, rộng 88cm, dày 14cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 140cm, rộng 86cm, dày 13cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 132cm, rộng 86cm, dày 11cm, có một ...
Bia hình chữ nhật, cao 142cm, rộng 85cm, dày 12cm, có một ...
Văn miếu Hưng Yên (hay còn gọi là Văn miếu Xích Đằng, Văn miếu Sơn Nam) tọa lạc ở trung tâm làng Xích Đằng, tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam xưa; nay thuộc tổ dân phố Xích Đằng, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên.
Văn miếu Hưng Yên là di tích thờ Đức thánh Khổng Tử, thầy Chu Văn An và các bậc tiên hiền Nho giáo. Điều đặc biệt, dưới thời Nguyễn nơi đây còn là trường thi Hương, có năm là nơi sát hạch thí sinh đi dự kỳ thi Hương và về sau là nơi ghi danh các nhà khoa bảng của tỉnh Hưng Yên thời kỳ phong kiến. Bởi vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của di tích có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự nghiệp trồng người của địa phương. Đây là nơi nuôi dưỡng lòng tự hào về truyền thống khoa bảng của tỉnh Hưng Yên, vừa là nguồn động lực, thúc đẩy thế hệ trẻ ý thức vươn lên, tinh thần phấn đấu trong học tập. Nó cũng giúp các em hiểu được đạo làm thầy, làm trò trong xã hội, từ đó có cách hành xử và thái độ đúng đắn đối với việc học tập trong thời kỳ mới. Với ý nghĩa quan trọng đó, tại Văn miếu Xích Đằng - biểu tượng văn hóa, văn hiến, nơi gắn kết “nguyên khí quốc gia” của đất và người xứ nhãn thường xuyên tổ chức các hoạt động mang đậm sắc thái văn hóa, giáo dục.
Sách Hưng Yên địa chí khi viết về Văn miếu Hưng Yên có ghi “Văn miếu tỉnh Hưng Yên thuộc địa phận xã Xích Đằng, cách tỉnh lị 2 cây số. Trong thờ đức Khổng phu Tử và các chư hiền. Mỗi năm mùa Xuân, mùa Thu hai lần quốc tế…”[1]. Như vậy, Văn miếu Hưng Yên trước đây, vào tiết xuân thu nhị kỳ (hằng năm vào các ngày mùng 10 tháng Giêng và ngày 14 tháng 8 âm lịch) đều có tổ chức tế lễ Khổng Tử và các bậc hiền triết, các quan trên tỉnh và huyện về dự tế lễ có rước kiệu, treo cờ ở nơi tế, tổ chức các cuộc vui chơi mang đậm màu sắc dân tộc.
Trong những năm tháng Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các hoạt động tế lễ tại Văn miếu bị gián đoạn. Sau khi tỉnh Hưng Yên được tái lập (năm 1997), chính quyền sở tại đã thực hiện một loạt các hoạt động nhằm chấn hưng giáo dục và truyền thống khoa bảng. Lần đầu tiên sau nhiều năm, nghi thức lễ tế, tưởng nhớ đến các bậc hiền triết được tổ chức trang trọng trở lại. Sổ vàng Văn miếu được lập nhằm vinh danh những cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và đóng góp cho xã hội tiêu biểu của tỉnh. Ngành Văn hóa đã kết hợp với ngành Giáo dục xây dựng quy chế hoạt động, đưa nơi đây thành “địa chỉ đỏ” cho các hoạt động giáo dục truyền thống, lễ báo công và khen thưởng học sinh xuất sắc hằng năm.
Từ năm 2004 trở lại đây, Văn Miếu thường xuyên tổ chức hoạt động “Triển lãm Thư pháp, hát Ca trù và cho chữ đầu xuân”. Đây là sự kiện văn hóa lớn nhất trong năm của Văn miếu diễn ra trong hai ngày mồng 4 và mồng 5 tết Nguyên đán hằng năm với nhiều hoạt động như: Lễ khai mạc, khai bút và dâng hương, hát ca trù, triển lãm thư pháp và cho chữ.
Hoạt động triển lãm thư pháp diễn ra từ ngày 25 tháng 12 đến hết tháng Giêng âm lịch. Các bức thư pháp tại Văn Miếu có nội dung sâu sắc và hình thức phong phú, thông qua những câu danh ngôn, những lời giáo huấn của bậc tiền nhân để tôn vinh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc, động viên khích lệ tinh thần vươn lên trong học tập của thế hệ trẻ. Cùng với đó là các tác phẩm thơ với chủ đề về mùa xuân và ca ngợi phong cảnh quê hương đất nước.
Khi những tia ánh nắng ấm áp đầu năm vừa đậu xuống những nhành non, vào sáng mồng 4 Tết, không gian Văn miếu bừng sáng trong nghi lễ khai mạc, khai bút và dâng hương đầy trang trọng. Giữa làn khói trầm thơm ngát, đại diện lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo các thế hệ học sinh, sinh viên và nhân dân đã tề tựu, nghiêng mình trước các bậc tiên hiền. Đó là khoảnh khắc thiêng liêng để lòng người cùng soi lại mình qua tấm gương hiếu học sáng ngời của cha ông, thắp lên khát vọng về một trí tuệ Việt rạng rỡ trong tương lai.
Trong dịp này, Ban tổ chức đã mời một số Thư pháp gia hàng đầu cho chữ và các câu lạc bộ ca trù trên địa bàn tỉnh biểu diễn, phục vụ du khách nhân dịp đầu xuân. Giữa không gian thấm đẫm hơi thở cổ kính, những nét bút tài hoa từ các Thư pháp gia như “rồng múa phượng bay”, gửi gắm những lời chúc phúc bình an cho một năm mới tốt lành. Đặc biệt, vẻ đẹp của di sản càng thêm thăng hoa khi những làn điệu Ca trù tế Thánh - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại - vang vọng dưới mái ngói rêu phong. Qua tiếng hát nhả chữ điệu nghệ của các ca nương Câu lạc bộ Ca trù Đào Đặng, những áng văn bất hủ của Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh,… như được hồi sinh, hòa quyện trong tiếng đàn đáy khoan nhặt và nhịp phách tinh tế. Mỗi thanh âm ấy không chỉ là sự thưởng lãm nghệ thuật, mà còn là hành động thiết thực để gìn giữ, nâng niu một báu vật nhân loại đang cần được bảo vệ. Văn Miếu lúc này không chỉ là một di tích, mà đã trở thành một không gian văn hóa sống động, một điểm đến tâm linh hấp dẫn, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa qua những nét chữ, cung đàn, làm say lòng biết bao khách lữ hành về với Phố Hiến.
Khi nghi lễ khai bút vừa khép lại, dọc theo hai bên đường thập đạo của Văn Miếu, một không gian văn hóa đầy chất thơ bắt đầu mở ra với tục cho chữ và xin chữ Thánh hiền. Trong tâm thức của người Việt, việc xin chữ đầu năm tại Văn Miếu không đơn thuần là một mĩ tục, mà đó là cuộc hành trình trở về với những giá trị trọng nghĩa, trọng trí. Mỗi nét chữ mực tàu trên nền giấy đỏ rực rỡ là một lời nguyện cầu chân thành cho một năm mới an lành, phúc thọ tràn đầy.
Dưới những tán cây xanh mướt, những tà áo dài của các em học sinh, sinh viên rạng rỡ dừng chân, mong xin được chữ để thắp sáng con đường học vấn, rèn chí luyện tài. Những người làm kinh doanh lại gửi gắm vào đó khát vọng về sự hanh thông, thịnh vượng,... Tùy vào mục đích và lứa tuổi, người xin chữ sẽ được các Thư pháp gia tư vấn chọn những chữ mang ý nghĩa phù hợp. Vừa uyển chuyển đưa bút, các Thư pháp gia vừa ân cần giảng giải về tầng sâu nghĩa lý của từng câu chữ. Ngày nay, song song với Thư pháp chữ Hán, các Thư pháp gia còn thực hành viết Thư pháp Việt với những câu chữ ca ngợi truyền thống hiếu học, ca ngợi cảnh đẹp quê hương, đất nước, tạo nên một dòng chảy văn hóa liên tục.
Song song với hoạt động Thư pháp, tại Văn Miếu còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục rất sôi nổi nhằm khơi dậy truyền thống hiếu học và khoa bảng của vùng đất Hưng Yên văn hiến: Lễ dâng hương các thầy cô giáo cùng các em học sinh thuộc các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong tỉnh; vinh danh những cá nhân và tập thể có thành tích tiêu biểu và xuất sắc trong học tập, giảng dạy; các tiết học thực tế, trải nghiệm thực tế tại di tích,…
Trong xu thế phát triển du lịch hiện nay, Văn miếu Hưng Yên trở thành điểm đến không thể thiếu trong các tuor du lịch về miền Sơn Nam văn hiến. Với tư cách là cơ quan chủ quản, Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên cũng thường xuyên tiến hành sưu tầm tài liệu, hiện vật, hình ảnh có liên quan đến thành tựu giáo dục, đào tạo của địa phương dưới thời phong kiến cũng như trong thời kỳ mới để tổ chức trưng bày, tuyên truyền, động viên, khuyến khích, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục; biên soạn các ấn phẩm văn hóa tuyên truyền về giá trị và hoạt động văn hóa có liên quan đến di tích; đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ hướng dẫn cho khách tham quan, học tập tại Văn miếu;...
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Văn miếu Xích Đằng vẫn đứng đó như một chứng nhân tâm linh, là “linh hồn” của đạo học trên mảnh đất Hưng Yên văn hiến. Những hoạt động văn hóa được tổ chức dưới mái ngói cổ kính này không chỉ đơn thuần là nghi lễ, mà đã trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng trí tuệ, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn cao đẹp của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh nhà. Văn Miếu hôm nay không chỉ là biểu tượng của quá khứ huy hoàng, mà còn là ngọn hải đăng tri thức, dẫn lối cho thế hệ trẻ vững bước trên con đường hội nhập, để mạch ngầm văn hóa của vùng đất “địa linh nhân kiệt” mãi mãi tuôn chảy cùng thời đại.