CHÙA PHỐ

Địa chỉ: Đường Trưng Trắc, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên

GIỚI THIỆU CHUNG

          Chùa Phố toạ lạc trên đường Trưng Trắc, phường Phố Hiến (trước là phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên). Xưa kia, đây là khu vực người Nhật và người Hoa tập trung sinh sống đã lập lên phố Bắc Hoà. Ngôi chùa là minh chứng cho sự tồn tại của người Hoa ở lại Phố Hiến sau thời kỳ hưng thịnh.
Chùa phố khi mới khởi dựng có tên là Quan Âm Các. Sau đó, người Hoa ở phố Bắc Hoà tiến hành tu sửa, mở rộng và đổi tên là Chùa Minh Hương với mong muốn làm rạng rỡ quê hương bản xứ. Thời gian sau, chùa được đổi tên thành Bắc Hoà tự. Đến đầu thế kỷ XX, quan Tổng đốc Thái Bình là Nguyễn Năng Quốc hưng công tu sửa chùa với mong muốn nơi đây thành trung tâm Phật giáo của tỉnh Hưng Yên. Để cảm tạ công ơn của ông, nhân dân đổi tên chùa là Bắc Hoà Quốc Công tự. Sau đó, tên chùa được đổi thành Bắc Hoà Nhân Dân tự. Ngoài ra, ngôi chùa nằm ở trung tâm thành phố nên thường được gọi là Chùa Phố và lâu dần thành tên chính của chùa.
          Chùa Phố ngoài thờ Phật còn là trung tâm Phật giáo của Phố Hiến xưa, cũng từng là nơi đặt Trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hưng Yên. Chùa Phố đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích Kiến trúc nghệ thuật” quốc gia theo Quyết định số 3959-VH/QĐ ngày 02/12/1992 và là một trong 16 di tích thuộc Khu Di tích Phố Hiến - “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích

Chùa là nơi thờ Phật nhằm hướng con người tới điều thiện và xóa bỏ phiền muộn. Bậc giáo chủ được thờ tự phổ biến tại các chùa Đại Thừa miền Bắc Việt Nam là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – một nhân vật lịch sử có thật, người khai sáng Phật giáo. Ngài vốn là Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Đa của nước Shakya (Ấn Độ cổ đại), sinh năm 563 TCN và mất năm 483 TCN. Truyền thuyết kể rằng lúc giáng sinh, Ngài đi bảy bước nở hoa sen và tuyên bố là bậc tôn kính nhất thế gian; ngay từ nhỏ đã sở hữu 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Dù sống trong nhung lụa và kết hôn năm 16 tuổi, nhưng sau bốn lần ra cửa thành chứng kiến cảnh Già, Bệnh, Chết và một Vị tu sĩ, Ngài đã nhận ra bản chất của "Khổ" và tìm thấy lối thoát cho chúng sinh.

Năm 29 tuổi, sau khi con trai La Hầu La chào đời, Thái tử quyết định rời hoàng cung để đi tu khổ hạnh. Nhận thấy phương pháp cực đoan này không đem lại kết quả, Ngài từ bỏ và chuyển sang thiền định dưới gốc cây Bồ đề. Sau 49 ngày đêm vượt qua sự quấy nhiễu của Ma vương, Ngài đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Trong suốt 45 năm sau đó, Ngài đi khắp Ấn Độ thuyết giảng về Tứ diệu đế, Duyên khởi và Luật nhân quả, cảm hóa mọi tầng lớp xã hội mà không phân biệt giai cấp.

Năm 80 tuổi, Đức Phật nhập Niết bàn tại rừng Sa La vào ngày rằm tháng 2 năm 483 TCN. Trước khi viên tịch, Ngài để lại lời dặn lịch sử: "Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, lấy pháp làm đuốc, nương pháp mà tự giải thoát". Sau lễ hỏa táng với nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, xá lị của Ngài được chia làm 8 phần thờ tại các bảo tháp, còn lời dạy của Ngài được các đệ tử kết tập thành các bộ Kinh Phật lưu truyền đến ngày nay.

Ở Việt Nam hình dáng của ngài được tạc ở bốn tư thế:

Tượng Cửu Long (tượng Thích Ca Sơ Sinh) diễn tả khi ngài mới giáng sinh.

Tượng Tuyết sơn: diễn tả khi ngài đang tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn.

Tượng Thuyết pháp: diễn tả khi ngài đang ngồi thuyết pháp.

Tượng Niết bàn: diễn tả khi ngài đang từ từ vào cõi Niết Bàn.

Mặc dù cuộc đời Đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học - vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến - cũng đều nhất trí công nhận Đức Phật là một nhân vật lịch sử và người đã khai sáng Phật giáo. Hầu hết các chùa ở miền Bắc theo phái Đại Thừa đều thờ phật Thích Ca làm giáo chủ.

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

          Tương truyền, chùa được khởi dựng cuối thời Lê, thời kỳ Phố Hiến bước vào giai đoạn suy tàn do một nhóm người Hoa còn lại ở Phố Hiến cùng với nhân dân phố Bắc Hoà xây dựng. Khi đó, chùa có quy mô nhỏ, chỉ là lầu thờ Quan Âm. Trải qua một số lần trùng tu vào các năm Tự Đức thứ 10 (1857) và Thành Thái thứ 15 (1903), chùa có quy mô lớn hơn.
          Ban đầu chùa quay về hường Nam. Năm Bình Dần niên hiệu Bảo Đại (1926) quan Tổng đốc Thái Bình là Nguyễn Năng Quốc đã tiến hành tu sửa chùa với quy mô lớn. Ông đã cho xoay hướng chùa về hướng Bắc, mở rộng Phật điện, làm Tam quan và Gác chuông.
          Trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, hiện nay, chùa là sự kết hợp của phong cách kiến trúc Trung Quốc cách tân và kiến trúc truyền thống Việt với các hạng mục công trình: Tam quan, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu,…
         - Tam quan: Tam quan chùa được làm kiểu chồng diêm. Cửa giữa xây 3 tầng 12 mái. Mái được tạo kiểu hình ngói ống. Các đao mái đắp hình rồng mớm phượng cách điệu mềm mại duyên dáng. Phần cổ diêm phía ngoài đắp chữ Hán "Bắc Hoà nhân dân tự”, phía trong đắp chữ "Từ quang phổ chiếu". Tầng thứ 3 là nơi treo quả chuông đồng. Hai cửa phụ chỉ có hai tầng 4 mái, các đao mái được làm cách điệu hình vân xoắn.
          Qua Tam quan là vào khu nội tự gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Ba toà này được làm kiểu trùng thiềm điệp ốc liên hoàn thông với nhau, mái chùa lợp ngói ta.
          - Tiền đường: Gồm 03 gian, kiến trúc vì kèo khá đơn giản. Phần hiên phía trước làm kiểu cuốn vòm, gian giữa xây cách điệu hai tầng 4 mái. Tầng trên làm kiểu tứ trụ, đây là nơi đặt gác chuông.
          - Thiêu hương: gồm 03 gian được trang trí theo lối kiến trúc Trung Hoa, mái được tách ra thành ba phần. Phần giữa làm cách điệu hai tầng tám mái đao, đường bờ mái trang trí hoa dây;  hai gian bên cạnh được làm với 4 mái đao. Toàn bộ cổ diêm bên trong gian giữa là khoảng không gian vuông vắn với 4 bức tường trang trí hoa văn và phù điêu các vị Phật, các vị La Hán. Toàn bộ hai bên tường hồi toà thiên hương là nơi đặt ban thờ, phù điêu Thập Điện Diêm Vương được đắp nổi trên tường trông rất sống động, mỗi pho tượng đều có tư thế ngồi khác nhau.

          - Thượng điện: gồm 03 gian, mái làm  kiểu vòm cuốn. Gian trung tâm đặt hệ thống tượng Phật chính của chùa: Bộ tượng Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca Tam Thánh, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, tòa Cửu long và tượng Thích Ca sơ sinh.
          Nhìn chung, các hạng mục kiến trúc của chùa Phố còn khá đồng bộ, vững chắc là sự kết hợp của phong cách kiến trúc Trung Quốc cách tân và kiến trúc truyền thống Việt. Hiện tại, ở Hưng Yên ngoài chùa Phố, chỉ còn ít ngôi chùa có nét kiến trúc cách tân khác biệt so với những ngôi chùa truyền thống Việt là: chùa Phương Tòng, xã Hiệp Cường (trước là xã Hùng An, huyện Kim Động) và chùa Xá, xã Nguyễn Trãi (trước là xã Cẩm Ninh, huyện Ân Thi).

di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Hiện nay, chùa Phố còn lưu giữ nhiều đồ thờ tự có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa cũng như mỹ thuật như: Hệ thống tượng Phật, bát hương, chuông đồng, hoành phi, câu đối,…  và đặc biệt là 02 bia đá: Bia “Bắc Hòa phố tự” dựng tháng 4 năm Đinh Tị niên hiệu Tự Đức thứ 10 (1857) và bia “Phụng lục Bính Dần Bảo Đại trùng tu bi ký” dựng năm Bính Dần niên hiệu Bảo Đại (1926). Hai tấm bia trên không chỉ cung cấp nhiều thông tin quan trọng về lịch sử, tên gọi, quá trình trùng tu tôn tạo của di tích chùa Phố, mà còn tài liệu quan trọng khi nghiên cứu về lịch sử đô thị cổ Phố Hiến.

  • Bia Phụng Lục Bính Dần Bảo Đại Trùng Tu Bi Ký

    Bia được tạo tác bằng chất liệu đá. Bia gồm hai mặt ...

  • Bia Bắc Hòa Phố Tự - Trùng Tu Bi Ký (1857)

    Hình cung, mỗi trán bia chạm một đôi rồng chầu mặt trời. ...

  • 1

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Các dịp lễ tiết chính tại chùa Phố:
- Tết Nguyên Đán: Vào dịp năm mới, chùa Phố là nơi diễn ra nhiều hoạt động, thu hút đông đảo người dân đến dâng hương, cầu bình an và đón năm mới.
- Đại lễ Phật Đản (Mùng 8 tháng 4 âm lịch): Đây là dịp quan trọng để tôn vinh Đức Phật, thường có các hoạt động lễ bái, thuyết pháp, rước Phật.
- Lễ Vu Lan (Rằm tháng 7 âm lịch): Dịp để tưởng nhớ công ơn cha mẹ, chùa Phố tổ chức các buổi lễ cầu siêu, diễn ra trong không khí trang nghiêm.
- Lễ hội Dân gian Phố Hiến (Tháng 3 âm lịch):
Dù diễn ra trong khuôn khổ Lễ hội Dân gian Phố Hiến, nhưng tại các chùa thuộc Khu di tích Phố Hiến như chùa Phố, cũng có những hoạt động tâm linh đặc sắc, phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân. 


Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ