Đền Thiên Hâu được xây dựng để tôn thờ bà Lâm Tức Mặc - vị thần biển có công bảo vệ đất nước, che trở, cứu giúp cho dân đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có nhiều truyền thuyết về bà Lâm Tức Mặc. Theo “Đại Thanh nhất thống chí” thì bà tên là Lâm Tức Mặc (Mặc có nghĩa là yên tịnh), quê ở đảo Mi Châu, thuộc làng Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Bà sinh ngày 23 tháng 3 âm lịch, là con gái thứ 6 của Lâm Nguyện, em gái thứ 2 của Ôn Công, thuộc dòng dõi Cửu Mạc, bà vốn là cô gái dệt lụa. Tương truyền, Lâm Tức Mặc khi sinh ra có hương thơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ xung quanh, đặc biệt từ khi sinh ra cho đến đầy tháng, bà không một lần cất tiếng khóc, vì thế người ta gọi bà là Lâm Mặc, cha mẹ cũng gọi con là Lâm Mặc Nương (vì vậy, có truyền thuyết cho rằng bà tên là Lâm Mặc Nương hay "Mặc Nương" có nghĩa là bé gái không khóc). Từ nhỏ, bà thông minh đĩnh ngộ hơn người, có lòng giúp đỡ người khác. Năm lên 8 tuổi bà đi học tiên, năm 16 tuổi luyện đơn thành cửu chuyên, có thể hô mưa, gọi gió và có phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Khi dân tình mất mùa đói kém bà đã phát hiện ra một thứ rong biển dùng để nấu thạch làm thức ăn cứu đói cho dân, và còn tìm ra một thứ dầu ăn gọi là “Ma Mộc”, phun xuống đất mọc lên cây cho hạt ăn thay lúa gạo giúp dân nghèo qua những trận đói kéo dài. Bà tinh thông y thuật nên thường trị bệnh cứu người, dậy dân cách phòng bệnh dịch, được mọi người vô cùng mến phục,… Bà còn thu phục được hai tướng tài Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ, các ngài có tài nhìn và nghe xa, phát hiện bọn giặc biển để trừ khử cho dân chài ra khơi đánh cá yên lành thịnh vượng. Vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, bà không bệnh mà hóa. Tương truyền, đó là ngày quần tiên tấu nhạc. Sau khi về trời, bà thường mặc áo đỏ bay lượn trên biển cứu giúp tàu thuyền gặp nạn đươc xuôi chèo mát mái. Các triều đại vua chúa của Trung Quốc đã sắc phong cho bà nhiều danh hiệu: Hộ Quốc Bảo Dân, Thánh Phi,… nhà Tống phong bà là Phu Nhân, triều nhà Minh phong bà là Thiên Phi, triều nhà Thanh phong bà là Thiên Hậu Thánh Mẫu, trở thành một nữ thần có ngôi vị cao nhất của đất nước. Người dân ở quê hương bà (Phúc Kiến) tôn bà là Thần Biển (Hàng Hải), nên di cư đến đâu đều mang thần tích và lập đền thờ đến đó. Chính vì thế, rất nhiều địa phương ở nước ta, dọc theo bờ biển, hoặc nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống đông đúc thường xuất hiện đền, miếu thờ Thiên Hậu. Trong đó, có đền Thiên Hậu thuộc phố Trưng Trắc, phường Phố Hiến ngày nay. Ngoài ra, trong Khu di tích Phố Hiến còn có Đông Đô Quảng Hội - Thiên Hậu Cung thuộc Phố Hiến Hạ xưa, nay là thôn Mậu Dương, phường Hồng Châu là điểm di tích thứ hai thờ bà.
Kiệu mui luyện được làm bằng gỗ, các tay đòn được tạo ...
Cỗ kiệu được chạm khắc cầu kỳ, tỷ mi, khéo léo đến ...
Nghê đá được tạc trong tư thế ngồi chầu, con đực miệng ...
Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...
Nội dung bia ngợi ca về công đức của Thánh mẫu Thiên ...
Trán bia hình cung trên chạm khắc chim phượng trong tư thế ...
Hàng năm, lễ hội truyền thống của Đền Thiên Hậu diễn ra vào hai kỳ: Kỳ lễ xuân vào ngày 23 tháng 3 (âm lịch) là lễ kỷ niệm ngày sinh của Thánh mẫu; Kỳ lễ thu vào ngày 9 tháng 9 (âm lịch) là lễ kỷ niệm ngày hóa của Thánh mẫu. Và cứ 5 năm sẽ tổ chức đại lễ một lần vào dịp lễ xuân.
Xưa kia, vào kỳ lễ hội, các dòng họ người Hoa ở phố Bắc Hòa (Bắc Hòa Thượng, Bắc Hòa Hạ) như: Ôn, Tiết, Hoàng, Quách, Phí, Bạch, Khu, Hữu, Mã, Trần, Hà, Lý, Thái, Từ... lần lượt đăng cai tổ chức lễ hội. Dòng họ nào đăng cai phải chuẩn bị các điều kiện tổ chức lễ hội và lễ vật dâng cúng. Các dòng họ khác đóng góp nhân lực, người đương cai lựa chọn thường là những già nam, trưởng lão, người am hiểu lễ nghi và có uy tín trong dòng họ. Để phục vụ việc tế tự tại di tích, cộng đồng người Hoa lập đội tế nữ quan là những người Hoa hoặc là người Việt gốc Hoa. Vào những kỳ lễ, đội tế đều phải chuẩn bị trang phục truyền thống, tập luyện kĩ càng chuẩn bị cho ngày lễ chính.
Trước ngày lễ hội, các dòng họ người Hoa ở phố Bắc Hòa ra đền dọn dẹp sạch sẽ khuôn viên, trang hoàng cờ phớn, chuẩn bị kiệu thánh lộng lẫy và các mâm lễ vật dâng thánh mẫu. Lễ vật gồm áo mũ mới, hoa quả, kẹo Sìu, chè kho, bánh Tô Châu. Lễ ngũ thực cúng ở tòa Thiêu hương gồm năm thứ thịt tươi sống: lợn, gà, cá trắm, dê và ngỗng. Riêng bàn thờ Thiên Hậu chỉ cúng chay gồm: cơm nắm, muối vừng, ruốc, bánh Tô Châu (còn gọi là bánh rùa, làm như hình con rùa), thạch rong câu, xôi, lục tào xá, rượu nước và hoa quả đầu mùa. Người Hoa cúng bánh rùa với ý nghĩa tưởng niệm tích khi người dân ở Phúc Kiến đói kém, Thánh Mẫu là người đã tìm được loại rong biển cứu dân thoát cảnh đói bấy giờ.
Đêm hôm trước ngày lễ chính, tiến hành nghi thức làm lễ Mộc dục và phong áo mũ mới cho Bà. Để phục vụ việc tế tự tại di tích, cộng đồng người Hoa lập đội tế nữ quan là những người Hoa hoặc là người Việt gốc Hoa.
Vào những kỳ lễ, đội tế đều phải chuẩn bị trang phục truyền thống, tập luyện kĩ càng chuẩn bị cho ngày lễ chính. Vào ngày lễ chính, buổi sáng sớm các họ người Hoa đều tập trung sớm ở Đền, người đương cai kính cẩn dâng lễ đã được chuẩn bị sẵn để cáo yết xin phép Thánh Mẫu cho khai hội. Buổi chiều tiến hành nghi thức rước kiệu và tượng Thánh Mẫu. Đội rước kiệu gồm rước cờ, đồ bát biểu, khiêng hương án, kiệu ngai, long đình đều do thanh niên đảm nhiệm. Kiệu ngai được khiêng bởi tám thiếu nữ chưa chồng với trang phục áo dài đỏ, đầu chít khăn đỏ. Kiệu long đình do 16 chàng trai mặc trang phục áo đỏ quần đen hoặc trắng, đầu chít khăn đỏ, chân quấn xà cạp. Ngoài ra còn có người tham gia múa rồng, lân và phường bát âm.
Đoàn rước kiệu xuất phát từ Đền Thiên Hậu (Thiên Hậu Thượng phố) qua Võ Miếu xuống Đông Đô Quảng Hội vào Thiên Hậu cung (Thiên Hậu Hạ phố) để tế lễ. Đi đầu đám rước là đội cờ, kèn tầu trống chiêng, các trinh nữ đội những mâm hài, giầy, đội tế nữ quan. Kế tiếp là bốn cỗ kiệu. Kiệu quan tiên phong do 4 nam khiêng, 2 bàn án: một bàn đặt mâm xôi to, một bàn đặt lợn quay. Sau đến kiệu ngai do 8 nữ khiêng và kiệu long đình với 16 nam khiêng. Đi sau cùng là cộng đồng người Hoa và người Việt cùng hòa vào đoàn người đi hội. Sau khi tế lễ ở Thiên Hậu cung xong, đoàn rước đi qua Đền Mẫu, Đền Trần về Đền Thiên Hậu để an vị. Khi đoàn rước đi qua, các gia đình người Hoa đều bày một bàn nhỏ trước cửa nhà, có hương hoa, xôi, rượu, thịt, đốt pháo chào đón. Đoàn rước đi tới đâu, chiêng trống vang lừng tới đó, mang theo âm sắc vui tươi của ngày hội. Điều đặc biệt là trên đường rước, tại các di tích đều đặt một bàn án để nghênh lễ. Khi đoàn rước đi qua các cổng đình đền chùa miếu nào (dù là do người Hoa hay người Việt xây dựng) thì đều dừng kiệu để vái. Điều này thể hiện sự tôn trọng mảnh đất con người và hòa nhập văn hóa của cộng đồng người Hoa với nhân dân bản địa.
Xen giữa các nghi thức tế lễ mang đậm màu sắc tín ngưỡng linh thiêng, trang nghiêm huyền hoặc là phần hội với những trò chơi dân gian được tổ chức tại sân đền Thiên Hậu 116 Lễ hội truyền thống Khu di tích Phố Hiến như cờ tướng, đấu vật, đảo đĩa, hát trống quân, tổ tôm, biểu diễn ca trù, hí kịch làcác tích kinh điển trong văn học Trung Hoa như Lưu – Quan – Trương kết nghĩa vườn đào, Khổng Minh, sự tích Thánh Mẫu… do người phố Bắc Hòa biểu diễn. Phần hội diễn ra tới cuối ngày hôm sau để tất cả nhân dân và du khách thập phương đều có thể vừa vào dâng lễ thánh mẫu, vừa tham dự các trò chơi. Sau đó ban tổ chức tiến hành làm tiệc mặn lễ tạ. Sau khi nghi thức tế tạ hội hoàn tất, các dòng họ, thành viên trong hội quán tổ chức thụ lộc.