ĐÔNG ĐÔ QUẢNG HỘI - THIÊN HẬU CUNG

Khu phố Mậu Dương, phường Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên

GIỚI THIỆU CHUNG

Đông Đô Quảng Hội - Thiên Hậu Cung được xây dựng tại trung tâm phố Hiến Hạ khi xưa, nay thuộc khu phố Mậu Dương, phường Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên. Đây là dấu tích minh chứng cho thời kỳ phát triển hưng thịnh của mảnh đất Phố Hiến nổi tiếng với câu ca “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.
Đông Đô Quảng Hội đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích Kiến trúc nghệ thuật” quốc gia theo Quyết định  số 3959-VH/QĐ ngày 02/12/1992 và là một trong 16 di tích thuộc Khu Di tích Phố Hiến – “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.

di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích
Theo các tư liệu còn lưu giữ tại di tích và truyền ngôn của các cụ cao niên trong vùng, Đông Đô Quảng Hội là nơi hội họp của các thương nhân nước ngoài, để mua bán, hợp đồng xuất nhập khẩu, định giá hàng hoá, điều hành các thương vụ ở Phố Hiến thế kỷ XVI - XVII, và là trụ sở giao tiếp của người đồng hương Trung Hoa. Ngoài ra, đây còn là nơi thờ ba vị Tam thánh của người Trung Hoa là: Thần Thái Y, Thần Hoa Quang và Thần Nông.
Chuyện kể rằng: Vào đời nhà Thanh (1614 - 1627) do không chịu nổi ách thống trị, áp bức của người ngoại tộc nên nhiều người Trung Hoa đã rời bỏ quê hương tới các nước láng giềng làm ăn sinh sống. Trong đó có 40 dòng họ người Trung Quốc thuộc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến di cư đến Phố Hiến. Họ đi bằng đường bộ và đường thuỷ (chủ yếu là đường thuỷ), 40 dòng họ này, 26 dòng họ vào Trung Kỳ và Nam Kỳ, còn lại 14 dòng họ ở lại Phố Hiến là dân nghèo. Họ ở lại buôn bán kiếm ăn, gồm các dòng họ như: Tứ, Lân, Ôn, Hoàng, Quách, Bạch, Châu, Mã, Thái, Trương, Hứa, Tiết, Lý. Từ khi đến định cư và làm ăn tại đây, dân của Phố Hiến tăng lên, trở thành một vùng thương nghiệp phồn thịnh. Theo tục truyền ở đất nước Trung Hoa ở đâu có người Trung Hoa thì ở đó có Đông Đô Quảng Hội, có đền thờ Tam Thánh gồm:
Thần Thái Y là vị thần chữa bệnh cứu người, ngoài ra thần còn dạy nhân dân trồng các loại dược liệu chế biến thuốc chữa bệnh như: cây quy, sâm,…
Thần Hoa Quang là thần dạy bách nghề như: làm kẹo, bánh khảo, bánh mứt tết, dệt lụa,...
Thần Nông là vị thần đã dạy dân làm ruộng, trồng trọt, chăn nuôi, trồng lúa nếp, dâu tằm....
Phía bên trái Đông Đô Quảng Hội còn có Thiên Hậu Cung thờ bà Lâm Tức Mặc - vị thần biển có công bảo vệ đất nước, che trở, cứu giúp cho dân đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Có nhiều truyền thuyết về bà Lâm Tức Mặc. Theo “Đại Thanh nhất thống chí” thì bà tên là Lâm Tức Mặc (Mặc có nghĩa là yên tịnh), quê ở đảo Mi Châu, thuộc làng Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Bà sinh ngày 23 tháng 3 âm lịch. Tương truyền, Lâm Tức Mặc khi sinh ra có hương thơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ xung quanh, đặc biệt từ khi sinh ra cho đến đầy tháng, bà không một lần cất tiếng khóc. Từ nhỏ, bà thông minh đĩnh ngộ hơn người, có lòng giúp đỡ người khác. Năm lên 8 tuổi bà đi học tiên, năm 16 tuổi luyện đơn thành cửu chuyên, có thể hô mưa, gọi gió và có phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Khi dân tình mất mùa đói kém bà đã phát hiện ra một thứ rong biển dùng để nấu thạch làm thức ăn cứu đói cho dân, và còn tìm ra một thứ dầu ăn gọi là “Ma Mộc”, phun xuống đất mọc lên cây cho hạt ăn thay lúa gạo giúp dân nghèo qua những trận đói kéo dài. Bà tinh thông y thuật nên thường trị bệnh cứu người, dậy dân cách phòng bệnh dịch, được mọi người vô cùng mến phục,… Bà còn thu phục được hai tướng tài Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ, các ngài có tài nhìn và nghe xa, phát hiện bọn giặc biển để trừ khử cho dân chài ra khơi đánh cá yên lành thịnh vượng.
Vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, bà không bệnh mà hóa. Tương truyền, đó là ngày quần tiên tấu nhạc. Sau khi về trời, bà thường mặc áo đỏ bay lượn trên biển cứu giúp tàu thuyền gặp nạn đươc xuôi chèo mát mái. Các triều đại vua chúa của Trung Quốc đã sắc phong cho bà nhiều danh hiệu: Hộ Quốc Bảo Dân, Thánh Phi,… nhà Tống phong bà là Phu Nhân, triều nhà Minh phong bà là Thiên Phi, triều nhà Thanh phong bà là Thiên Hậu Thánh Mẫu, trở thành một nữ thần có ngôi vị cao nhất của đất nước. Người dân ở quê hương bà (Phúc Kiến) tôn bà là Thần Biển (Hàng Hải), nên di cư đến đâu đều mang thần tích và lập đền thờ đến đó. Chính vì thế, rất nhiều địa phương ở nước ta, dọc theo bờ biển, hoặc nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống đông đúc thường xuất hiện đền, miếu thờ Thiên Hậu. Trong đó có Thiên Hậu Cung thuộc Phố Hiến Hạ xưa, nay là khu phố Mậu Dương, phường Hồng Châu.

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

Đông Đô Quảng Hội - Thiên Hậu Cung khởi dựng vào thế kỷ XVI (1590) trên khu đất rộng rãi, thoáng đạt. Toàn bộ nguyên vật liệu, đồ tế khí do 14 dòng họ thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến (Trung Quốc) quyên góp, vận chuyển sang bằng đường biển và được các thương nhân cùng người dân Phố Hiến cất dựng lên. Trải qua thời gian, với nhiều lần trùng tu, tôn tạo Đông Đô Quảng Hội - Thiên Hậu Cung vẫn là công trình độc đáo giữ được nguyên nét kiến trúc Trung Hoa như lời Giáo sư Trần Lâm Biền đã nhận định: Đối với các hội quán có sự đóng góp của người Hoa, phải khẳng định rằng, cho tới nay không một hội quán nào có gốc Hoa ở khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước còn giữ được những bộ phận kiến trúc và nghệ thuật mang niên đại vào thế kỷ XVII - XVIII như của Hưng Yên - Đông Đô Quảng Hội.
Hiện nay, Đông Đô Quảng Hội có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Công, gồm 03 gian Hội quán, 01 gian Thiên hương và 03 gian Hậu cung, mang phong cách kiến trúc Trung Hoa kết hợp với kiến trúc Việt.
Từ ngoài vào trong, công trình đầu tiên là Nghi môn, được lợp bằng ngói vẩy cá, kiến trúc vì kèo kiểu giá chiêng, kê trên các đấu kê hình đài lá và hình vành khuyên.
Hội quán được làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, xưa kia đây là nơi hội họp của các thương nhân nước ngoài sang buôn bán tại Phố Hiến thế kỷ XVI - XVII. Kết cấu các bộ vì chính được tạo tác kiểu vì chồng rường con nhị. Các bộ vì nách được tạo tác kiểu vì chồng rường cột trốn, các con rường được kê trên các đấu và thông qua hai đầu cột trốn, tất cả các cấu kiện đều để trơn không trang trí hoa văn. Gian giữa Hội quán đặt ban thờ công đồng, thờ những người có công với xóm làng.
Thiên hương được phục dựng lại năm 1975, đây là nơi nhân dân sửa soạn lễ vật trước khi vào dâng hương lễ Thánh. Tại đây đặt 02 tấm bia đá “Ngũ phủ trùng kiến Hội quán bi ký” và “Trùng tu Đông Đô Quảng Hội bi ký” ghi chép về việc trùng tu Đông Đô Quảng Hội.
Hậu cung gồm 03 gian, kết cấu các bộ vì kèo kiểu chồng rường con nhị, nâng đỡ vì là hệ thống cột cái được kê trên các chân tảng đá thắt cổ bồng. Hệ thống cửa Hậu cung trạm trổ tùng, điểu, hươu, nai... đố cửa chạm nổi phượng vũ, mã phi, bên trên chạm lộng phúc, lộc, chim, thú... thể hiện ước vọng cầu lộc, cầu phúc của nhân dân. Gian trung tâm Hậu cung đặt ban thờ Tam thánh. Hai gian hồi đặt ban thờ Thổ địa và Thái Bảo Lê Đình Kiên - Quan Trấn thủ Trấn Sơn Nam thời kỳ phồn thịnh của Phố Hiến.
Nằm sát Đông Đô Quảng Hội là Thiên Hậu Cung. Cung Thiên Hậu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Công gồm 03 gian Tiền tế, 01 gian Thiên hương và 03 gian Hậu cung, mang phong cách kiến trúc Trung Hoa kết hợp với kiến trúc Việt.
di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Tại Đông Đô Quảng Hội và Thiên Hậu Cung còn lưu giữ được nhiều hiện vật rất có giá trị, tiêu biểu như: hoành phi, câu đối, khám thờ,… và đặc biệt là 04 tấm bia đá ngoài việc ghi chép về việc trùng tu, tôn tạo di tích, còn cung cấp nhiều tư liệu quan trọng khi nghiên cứu lịch sử Phố Hiến:

  • Bia Ngũ phủ Trùng Kiến Hội quán bi kí

    Bia được gắn vào tường, trán bia trang trí đề tài lưỡng ...

  • 1

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Trong tiến trình lịch sử và phát triển, lễ hội truyền thống tại Đông Đô Quảng Hội không mang nhiều nghi thức như các di tích khác. Trước đây, cộng đồng người Hoa sinh sống tại Phố Hiến chủ yếu thực hành tín ngưỡng thông qua các nghi lễ mang tính gia đình và dòng họ vào ngày mồng Một, ngày Rằm âm lịch hàng tháng hoặc trong các dịp lễ tiết truyền thống của Trung Quốc. Những nghi lễ này thường giản dị, tập trung vào việc dâng hương, sắm sửa lễ vật để cầu xin Tam Thánh phù hộ cho sức khỏe, bình an và sự hanh thông trong làm ăn, buôn bán. Trong khi đó, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thờ Thiên Hậu lại mang sắc thái riêng biệt và có tính cố kết cộng đồng rõ nét hơn. Cả Thiên Hậu cung (Hạ Phố) và Đền Thiên Hậu (Thượng Phố) cùng thờ Thánh Mẫu Lâm Tức Mặc, do vậy lễ hội truyền thống tại hai di tích này về bản chất là một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức vào hai kỳ lễ xuân – thu hằng năm. Lễ xuân diễn ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Thánh Mẫu; lễ thu tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, tưởng niệm ngày hóa của Ngài, và cứ năm năm một lần sẽ có đại lễ được cử hành long trọng vào dịp xuân. Toàn bộ công tác tổ chức, chuẩn bị lễ vật đều do cộng đồng người Hoa đảm nhiệm, với hệ thống lễ phẩm phong phú, phản ánh sự giao thoa văn hóa Hoa – Việt, từ các loại bánh truyền thống của người Hoa (như áo mũ mới, xôi, gà, rượu, thịt, hương hoa phẩm quả, vàng nến, bánh rau câu, bánh Tô châu, kèo Sùi, bánh Rùa, bánh Phục linh, chè lam, chè kho, cơm nắm, muối vừng) đến những thức rước kiệu quen thuộc của người Việt. Tới ngày lễ chính, khi các nghi thức tế ở đền Thiên Hậu hoàn tất, đội tế rước kiệu và tượng Thánh Mẫu xuất phát từ đó, đi qua Võ Miếu xuống Đông Đô Quảng Hội vào Thiên Hậu cung thực hiện tế lễ, sau đó lại quay trở về Thượng Phố để làm lễ tế thần. Kết thúc tế là phần ẩm phúc, thụ tộ và lễ tạ ở cả hai nơi. Điều này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn thể hiện mối liên kết không gian văn hóa– tín ngưỡng giữa các di tích trong khu vực cộng đồng người Hoa sinh sống.

 Ngày nay, lễ hội Đông Đô Quảng Hội – Thiên Hậu cung vẫn được duy trì theo chu kỳ truyền thống, trở thành một biểu hiện sinh động của sự bảo lưu tín ngưỡng dân gian và bản sắc văn hóa cộng đồng của cư dân Phố Hiến. Không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội tại Đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội – Thiên Hậu cung đã và đang trở thành điểm hội tụ tinh thần của đông đảo nhân dân địa phương cùng du khách thập phương. Trong không gian linh thiêng xen lẫn nhịp sinh hoạt lễ hội rộn ràng, người tham dự không chỉ tìm đến để cầu bình an, may mắn mà còn để cảm nhận chiều sâu lịch sử, sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa được kết tinh hội tụ trong không gian thờ tự, qua các nghi lễ tế lễ và bước chân rước kiệu. Chính sức sống ấy đã giúp lễ hội vượt ra khỏi phạm vi một nghi thức tín ngưỡng, trở thành biểu tượng gắn kết cộng đồng và là điểm nhấn văn hóa đặc sắc của Phố Hiến trong đời sống đương đại./.


Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ