ĐỀN KIM ĐẰNG

Địa chỉ: Khu phố Kim Đằng, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên

GIỚI THIỆU CHUNG

Đền Kim Đằng (tên tự là Điện Cung từ) tọa lạc tại khu phố Kim Đằng, phường Sơn Nam (trước đây là phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Vùng đất này có lịch sử phát triển lâu đời, từ thế kỷ X, nơi đây chính là dải đất Đằng Châu - một bãi đất nổi tự nhiên kéo dài khoảng 2km theo trục Tây Bắc - Đông Nam. Đến thời kỳ Phố Hiến, nơi đây là Đằng Man trang, một trong những trang trại đầu tiên của Hưng Yên, cách Phố Hiến 3km về phía Bắc.
Đền Kim Đằng đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích lịch sử” quốc gia theo Quyết định số 3951-QĐ/BVHTT ngày 20/12/1997 và là một trong 16 di tích thuộc Khu Di tích Phố Hiến – “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích
Đền thờ tướng quân Đinh Điền và phu nhân Phan Thị Môi Nương, cùng phối thờ còn có ba tướng quân họ Phan, họ Phạm và họ Nguyễn (người địa phương) là các gia tướng của Đinh Điền.
Tướng quân Đinh Điền quê ở xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, vốn là con nuôi của Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh). Từ thuở nhỏ, ông đã làm bạn “cờ lau tập trận” của Đinh Bộ Lĩnh, lớn lên đã cùng Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú và Đinh Bộ Lĩnh kết nghĩa anh em. Khi đất nước xảy ra loạn 12 sứ quân, mấy anh em bằng hữu đã theo sứ quân Trần Lãm chiếm giữ vùng Bố Hải (nay thuộc Tiền Hải - Thái Bình). Sau khi trở thành Vạn Thắng Vương, Đinh Bộ Lĩnh giao cho Đinh Điền chỉ huy 10 đạo quân đi thu phục các sứ quân khác. Khi đến trang Đằng Man, thấy địa thế đẹp, Đinh Điền liền cho dựng đại bản doanh và chọn 3 người họ Phan, họ Phạm và họ Nguyễn ở trang Đằng Man làm gia tướng.
Dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư - Ninh Bình. Đến năm Kỷ Mão (979), Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bị kẻ phản tặc Đỗ Thích giết hại, Đinh Điền cùng các quan đại thần tôn Đinh Toàn (khi đó mới 6 tuổi) lên ngôi vua, tôn Dương Vân Nga làm Hoàng Thái hậu. Khi quân Tống lăm le xâm lược biên giới phía Bắc, đất nước đứng trước họa ngoại xâm, quân sĩ tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua, thay cho Đinh Toàn khi đó còn quá nhỏ. Không chấp nhận việc đó, quan Ngoại giáp Đinh Điền và Định quốc công Nguyễn Bặc đang trấn giữ Châu Ái cùng Phạm Hạp dấy binh, đưa quân từ Thanh Hóa ra đánh Hoa Lư nhưng không thành, Đinh Điền lui quân về trại Đằng Man. Ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão (979), Đinh Điền và phu nhân mất, nhân dân trại Đằng Man đã lập đền thờ trên nền doanh trại xưa, ba gia tướng của Đinh Điền cũng được phối thờ tại đây.

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

Tương truyền, sau khi tướng quân Đinh Điền cùng phu nhân mất, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của các ngài. Ban đầu đây chỉ là một ngôi miếu nhỏ. Đến giai đoạn Phố Hiến phát triển hưng thịnh vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, ngôi đền được tôn tạo lai với quy mô lớn gồm 7 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, 7 gian Tiền tế đã bị bom đạn chiến tranh phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại 3 gian Hậu cung được sử dụng làm trụ sở tạm thời của Công ty Lâm sản tỉnh Hưng Yên, về sau làm trường học cho con em địa phương.
Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, năm 1994, chính quyền và nhân dân địa phương đã khởi công xây dựng lại 05 gian Tiền tế đình trên nền móng cũ. Đồng thời cũng tiến hành tu sửa lại Hậu cung, thay một số cột, hoành dui và đảo lại mái ngói. Kể từ đó cho đến nay, ngôi đền cũng trải qua nhiều đợt tu sửa nhỏ.
 Hiện nay, đền có kiến trúc mặt bằng tổng thế kiểu chữ Đinh gồm 05 gian Tiền tế và 03 gian Hậu cung. Toà Tiền tế được làm kiểu chồng diêm hai tầng mái cách điệu. Các bộ vì toà Hậu cung được cấu tạo kiểu con chồng đấu sen, trang trí đơn giản. Gian trung tâm Hậu cung đặt tượng tướng quân Đinh Điền và phu nhân Phan Thị Môi Nương. Đây là công trình kiến trúc có giá trị đặc biệt về lịch sử - văn hóa. Nơi ghi dấu những công lao to lớn của tướng quân Đinh Điền và các bậc tiền nhân trong thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Hiện nay, đền Kim Đằng còn bảo lưu được nhiều hiện vật quý như: ngai, bài vị, mũ, hia và đồng của tướng quân Đinh Điền và phu nhân, chuông đồng (1840),… và đặc biệt là 11 đạo sắc phong thời Hậu Lê - Nguyễn:
- 01 sắc niên hiệu Cảnh Hưng nguyên niên (1740);
- 01 sắc niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767);
- 01 sắc niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783);
- 01 sắc niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên (1786);
- 01 sắc niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853);
- 01 sắc niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880);
- 01 sắc niên hiệu Duy Tân thứ 3 (1909);
- 02 sắc niên hiệu Khải Định thứ 2 (1917);
- 02 sắc niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).


  • Sắc phong

    Sắc phong trên với hình dáng chữ nhật nằm ngang. Sắc phong ...

  • Sắc phong

    Sắc phong được viết trên nền giấy sắc màu vàng nhạt, thô ...

  • Sắc phong

    Đạo sắc phong năm Khải Định thứ 2 (1917) tại đền Kim ...

  • Sắc phong

    Đạo sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924) tại đền Kim ...

  • Sắc phong

    Đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 được viết trên ...

  • 1

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Xưa kia, lễ hội đền Kim Đằng diễn ra từ ngày 15 - 17 tháng 11 âm lịch để tưởng nhớ tới ngày hóa của tướng quân Đinh Điền và phu nhân. Trước ngày làng mở hội, các quan viên chức sắc trong làng, cùng với đại diện các giáp và một số dòng họ họp bàn chuẩn bị công việc. Dân làng Kim Đằng có 8 phe giáp gồm: giáp Cả, giáp Nhì, giáp Tam, giáp Tứ, giáp Ngũ, giáp Lục, giáp Thất, giáp Bát, trong đó 3 giáp có trách nhiệm phụng thờ tại đền, 5 giáp phụng thờ tại đình (xưa kia, làng Kim Đằng có đình và đền). Các giáp thay phiên nhau tổ chức lễ hội hằng năm. Ngoài số ruộng của đền, các giáp đều có ruộng riêng, giao cho một số người cày cấy, nguồn lợi thu được dùng vào việc tế lễ tại đền. Trong số 3 giáp phụng sự tại đền, mỗi giáp bầu ra một người đại diện của giáp mình làm trùm giáp. Trùm giáp phải 50 tuổi trở lên, gia đình có nền nếp, đạo đức, được mọi người kính trọng. Trùm giáp có quyền điều hành mọi việc trong giáp, phân công người tham gia tế lễ, dâng cúng lễ vật tại đền, tham gia rước trong ngày diễn ra lễ hội.

Trong những ngày hội chính, các quan viên, chức sắc có vai vế trong làng giữ vai trò chính trong việc tế lễ. Đội tế có 12 người, do các giáp bầu ra. Chủ tế thường là Tiên chỉ, Thứ chỉ hoặc Chánh, Phó lý. Xướng quan từ 50 tuổi trở lên, có sức khỏe, am hiểu lễ nghi. Hầu tế là đại diện các bô lão của các giáp. Chủ tế mang trang phục mũ cánh chuồn, áo có chữ Thọ, quần trắng đi hia. Xướng quan quần trắng, áo xanh, đội mũ hoặc khăn xếp. Hầu tế mặc áo the, quần trắng, đầu đội khăn xếp.

Phường bát âm và người tham gia rước cờ, trống kiệu, bát bửu do các giáp cử ra. Những người tham gia rước kiệu là những nam thanh, nữ tú chưa lập gia đình (18 tuổi trở lên đối với nam, 16 tuổi trở lên đối với nữ). Gia đình những người tham gia rước phải song toàn, khỏe mạnh, nền nếp, không có tang. Trong cuộc rước, nam mặc trang phục áo cân đai bối tử, chân quấn xà cạp; nữ áo tứ thân, thắt đai do các gia đình tự mua sắm theo quy định của làng.

Ngày 10 tháng 11, chức sắc trong làng, thủ từ và đại diện kỳ lão các giáp làm lễ mộc dục tại đền. Các chức dịch trong làng, đại diện các giáp dâng lễ vật và làm lễ cáo yết, kính cẩn báo cáo và mời các vị thần về dự lễ hội, phù trợ cho dân làng tổ chức lễ hội được yên vui, một năm thuận lợi mùa màng bội thu. Mỗi giáp phải chuẩn bị một mâm lễ mang ra đền làm lễ. Mâm của giáp đương cai năm đó phải làm to hơn, cỗ nhiều món hơn các giáp khác. Cỗ chay gồm xôi, bánh dày, chè đông; cỗ mặn gồm các món giò, nem, ninh mọc, thịt trâu sống, lợn luộc. Cỗ của giáp đương cai do trùm giáp sửa soạn, sau đó người đứng đầu Hội đồng kỳ dịch (sau này gọi là Hội đồng tộc biểu) kiểm tra mới được mang ra đền. Cỗ cửa các giáp còn lại thì tùy nghi, làng không kiểm tra. Phía bên ngoài sân đền, các giáp tiến hành lắp ráp các kiệu và tập dượt cho các đội trai kiệu, phù giá, đội bát âm,... chuẩn bị cho buổi rước kiệu vào ngày chính hội.

Sáng 17 tháng 11 là buổi tế chính. Quy trình tế lễ được tiến hành bài bản, theo nghi thức truyền thống và thực hiện qua các bước: Khởi tuần hương đăng, sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ và lễ tất. Lễ vật dâng thánh gồm lễ mặn (thủ lợn, gà, xôi) và lễ chay (hoa quả, chè, bánh). Dòng họ, gia đình dâng lễ vào trước hoặc sau lúc tế lễ. Lễ vật có cỗ chay, cỗ mặn tùy từng gia đình, dòng họ, thường là thủ lợn, gà, hoa quả, bánh chay.

Sau lễ tế Thánh, dân làng Kim Đằng có tục rước kiệu Thánh du ngoạn quanh làng, thăm thú phong cảnh. Lễ rước được cử hành trọng thể, trang nghiêm trong không khí tưng bừng, náo nhiệt âm thanh của tiếng trống, tiếng tù và, các điệu nhạc vui nhộn hòa quyện với màu sắc rực rỡ của cờ hoa và trang phục trong đám rước, tạo nên một không khí linh thiêng, hấp dẫn. Đi đầu là đội múa gậy dẹp đường, tiếp đó là trống cái, cờ thần, bát bửu, chấp kích, kiệu bát cống, kiệu võng và kiệu long đình (05 cỗ kiệu của 05 vị thần được thờ tại đền). Xen kẽ giữa các kiệu là đội sinh tiền, quan viên chức sắc, đội tế nam. Đi cuối cùng là dân làng và khách hành hương. Đoàn rước khởi hành từ đền Kim Đằng tuần du qua các xóm trong làng, qua đình, chùa và các miếu (thờ 03 vị gia tướng của Đinh Điền). Khi qua các ngõ xóm thì đoàn rước đi chậm lại để các xóm lễ Thánh, cầu bình an cho xóm. Những gia đình hai bên đường thường bày nhang án để nghênh lễ, bái vọng. Buổi chiều, dân làng làm lễ hóa mã và kết thúc hội.

Trong các ngày diễn ra lễ hội, làng còn tổ chức diễn xướng dân gian (như hát chèo, trống quân...), các trò chơi dân gian (như chọi gà, cờ tướng, múa gậy, bắt vịt,…).  Đây là những làn điệu dân ca, những trò chơi truyền thống mang nét đặc trưng của cư dân Bắc Bộ xưa. Đặc biệt, trong ngày 17, tại đền còn tổ chức thi nấu cỗ. Các giáp trong làng thi nẫu cỗ mặn, cỗ chay. Một phần cỗ được dâng lên lễ thần, phần còn lại để thi thố, chấm điểm và chọn ra mâm cỗ ngon nhất để trao phần thưởng.

Ngày nay, do điều kiện thay đổi, lễ hội đền Kim Đằng được duy trì và tổ chức lớn 5 năm một lần từ ngày 15 - 17 tháng 11 âm lịch nhằm tưởng nhớ đến ngày mất của Tướng quân và phu nhân. Lễ hội tổ chức với nhiều nghi thức như: Tế lễ, rước kiệu, các hoạt động văn nghệ cùng các trò chơi dân gian truyền thống. Trong quá trình tổ chức lễ hội đền Kim Đằng, bên cạnh những yếu tố truyền thống được bảo lưu tương đối nguyên vẹn, thì lễ hội cũng có một số thay đổi theo xu hướng hiện đại hóa, phù hợp với nhịp sống mới của xã hội.

Lễ hội xưa là sự tập hợp của các giáp, dòng họ trong làng, chịu sự chi phối của làng xã, sự phân công, quy định của các chức dịch trong làng. Còn lễ hội ngày nay thể hiện trách nhiệm chung của cộng đồng, giữa tổ chức chính quyền cùng các đoàn thể có sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của Nhân dân địa phương cùng tham dự.

Lễ cáo yết và buổi tế chính do đội tế nam thực hiện diễn ra vào sáng ngày 15 tháng 11. Bên cạnh đội tế nam, làng Kim Đằng còn mời thêm một số đội tế nữ từ các vùng lân cận về tham dự và tế Thánh (lễ hội xưa nữ không được tham gia tế). Đây cũng là thể hiện sự bình đẳng, dân chủ, sự cộng cảm của cộng đồng trong lễ hội.

Lễ hội đền Kim Đằng ngày nay vẫn duy trì tổ chức các trò chơi dân gian như bắt vịt, cờ tướng, chọi gà,... vào buổi chiều và chương trình văn nghệ vào các buổi tối trong những ngày làng mở hội. Riêng phần thi nấu cỗ được đổi thành thi gói bánh trưng và được tổ chức vào buổi chiều ngày 15 tháng 11.

Vào những năm thường, dân làng chỉ tổ chức dâng hương lễ Thánh vào ngày 17 tháng 11, nghi thức tuy đơn giản nhưng vẫn đảm bảo sự trang nghiêm, trang trọng. Các hoạt động diễn ra trong lễ hội được cộng đồng bảo tồn, giữ gìn qua nhiều thế hệ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, khơi dậy ý thức giữ gìn di sản văn hoá của quê hương, đất nước.

Không chỉ lắng đọng trong không gian hội chính vào tháng 11, đền Kim Đằng còn hòa mình vào nhịp đập rộn rã của Lễ hội Văn hóa Dân gian Phố Hiến mỗi độ tháng Ba về. Trong tiết trời xuân ấm áp, giữa dòng người và cờ hoa rực rỡ, đoàn rước của đền Kim Đằng cùng các di tích trong vùng tựa như một dải lụa văn hóa đa sắc, kết nối những tinh hoa của vùng đất “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đó là cuộc hội quân của tâm linh, nơi niềm tự hào về quá khứ vàng son một lần nữa được đánh thức và lan tỏa mạnh mẽ.

Giờ đây, đền Kim Đằng cùng hệ thống di tích Phố Hiến đã trở thành điểm hẹn về nguồn đầy hấp dẫn cho những ai muốn tìm lại bản sắc dân tộc. Giữa một Phố Hiến địa linh nhân kiệt đang chuyển mình mạnh mẽ, từng mái đền, pho tượng vẫn thầm lặng kể câu chuyện về sự tiếp nối của dòng chảy lịch sử. Hàng vạn lượt khách thập phương về đây không chỉ để chiêm bái, mà còn để cảm nhận nhịp thở của một vùng đất đang vươn mình phát triển nhưng vẫn nâng niu, gìn giữ vẹn nguyên linh hồn di sản của cha ông.


Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ