Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...
1
Lễ hội đền Mẫu là lễ lớn có từ lâu đời, nổi tiếng trong vùng về qui mô và sự đặc sắc, thu hút đông đảo cộng đồng, du khách trong và ngoài tỉnh cùng tham dự. Theo tư liệu hồi cố, xưa kia lễ hội tại đền diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch để kỉ niệm ngày hóa của Dương Quý Phi. Trong lễ hội có tổ chức tế lễ, rước kiệu, rước liềm, rước nước,...cùng nhiều trò chơi dân gian truyền thống. Lễ hội đền Mẫu được tổ chức đến năm 1945 thì bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác. Đến năm 1992, chính quyền và nhân dân sở tại đã khôi phục lại lễ hội theo đúng trình tự, nghi thức như xưa. Tuy nhiên, sau khi được khôi phục thời gian diễn ra lễ hội rút ngắn lại từ ngày mồng 9 đến ngày 15 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Mở đầu lễ hội vào ngày mồng 9 tháng 3, Ban Quản lý di tích cùng nhân dân địa phương tiến hành làm lễ cáo yết xin phép Thánh Mẫu cho mở hội. Lễ vật dâng lên Thánh Mẫu gồm hương, hoa, đăng, trà, quả, thực. Buổi chiều cùng ngày, dân làng Hoa Dương rước kiệu Thành hoàng làng (Quan Thái giám họ Du) từ đình Hiến lên đền Mẫu dự hội. Lúc này, không khí tại sân đền trở nên náo nức hơn bao giờ hết. Tất cả các thành phần tham gia đều đã tề tựu đông đủ trước cổng đền đón kiệu rước Thành hoàng làng. Đây là một nghi thức quan trọng tạo nên sự trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính, tri ân công lao của các bậc tiền nhân và kết nối tín ngưỡng dân gian với các di tích lịch sử của Phố Hiến - Hưng Yên. Sau khi kiệu rước tới sân đền Mẫu, bát hương Thành hoàng được rước vào ngự tại bên trong đền đến hết hội mới rước trở lại đình Hiến. Sáng ngày mồng 10 tháng 3, trong không khí linh thiêng của đất trời Phố Hiến, Ban tổ chức lễ hội thực hiện nghi thức rước tượng Thánh Mẫu (pho tượng nhỏ bằng đá đặt trước cửa cung cấm) đầy tôn kính cùng bát hương được cung nghinh ra ngự tại cung đệ Nhất trong sự ngưỡng vọng của cộng đồng. Tiếp đến là lễ khai hội được diễn ra trang trọng nhằm ôn lại lịch sử bản đền, câu chuyện về lòng trung trinh tiết nghĩa của Mẫu Dương Quý Phi một lần nữa được tái hiện. Ngay sau tiếng trống khai hội rộn rã, không gian đền Mẫu trở nên ấm áp bởi dòng người đổ về dâng hương, tạo nên một bức tranh văn hóa tâm linh linh thiêng và tràn đầy sức sống. Đúng 9 giờ sáng, Ban tổ chức lễ hội tổ chức tế lễ tại đền với sự tham gia của đội tế nữ, thời gian tế kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ. Quy trình tế lễ được tiến hành bài bản, theo nghi thức truyền thống và thực hiện qua các bước: Khởi tuần hương đăng, sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ và lễ tất. Buổi chiều, nhà đền đón các đoàn khách thập phương về dâng hương, dự hội. Các gia đình và dòng họ trong khu phố tự sắm lễ để dâng Thánh Mẫu, họ cầu mong đuợc sự phù hộ, độ trì của Mẫu một năm mới an khang thịnh vượng, làm ăn phát tài, gia đình hạnh phúc, con cháu học hành tiến bộ, thi cử đỗ đạt cao.
Ngày 11 tháng 3, Ban tổ chức lễ hội tiếp tục đón đông đảo các đoàn khách thập phương về dâng hương, dự hội và tham gia trải nghiệm các hoạt động văn hóa đặc sắc tại lễ hội. Theo tư liệu hồi cố, xưa kia vào ngày này nhà đền tổ chức lễ thỉnh kinh và rước nước. Đây là nghi lễ quan trọng của Lễ hội đền Mẫu. Đúng 8 giờ sáng (giờ Thìn), đoàn rước khởi kiệu từ sân đền theo đường Bạch Đằng và xuôi dọc đường Lê Hồng Phong ra sông Hồng lấy nước. Kiệu được sử dụng trong buổi rước gồm các kiệu chính: kiệu long đình, kiệu bát cống và kiệu đựng chóe nước. Đoàn rước gồm rồng dẫn đầu, gươm thần bát bửu, phường bát âm, đội múa sênh tiền, cờ quạt cùng đội hình khiêng kiệu. Theo sau là các cụ hai giới, các đoàn hội tạo nên một đội hình rước uy nghi, hoành tráng. Ra đến bến sông, kiệu chóe nước được rước xuống thuyền. Lúc này, hai bên bờ sông Hồng người dự hội náo nức, chen nhau ngắm xem. Trên sông đoàn thuyền nối đuôi nhau ngược dòng lên địa phận gần cửa đền Mây (nơi thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ) neo thuyền, nhà sư làm lễ xin nước, sau đó chọn chỗ nước trong giữa dòng thực hiện nghi thức múc nước. Trong khi nhà sư và các cụ cao niên thực hiện nghi thức múc nước, bên ngoài tiếng trống, tiếng chiêng hòa cùng với các bản tấu nhạc của phường bát âm tạo không khí âm vang cả một khúc sông. Khi nước đầy choé, đoàn rước lên bờ theo cung đường cũ trở về đền Mẫu, rước vào cung cấm. Nước này được dùng để thờ trong một năm cho đến lễ hội năm sau. Ngoài ra, nước này cũng được dùng để làm lễ Mộc dục (tắm tượng, thay áo mới cho Mẫu) vào ngày 14 tháng 7 (âm lịch), một phần đến ngày 15 tháng 7 dùng nấu cháo chúng sinh xá tội vong nhân. Có thể nói, nghi lễ rước nước trong Lễ hội đền Mẫu chính là một hình thức cầu nước của cư dân nông nghiệp gắn với nền văn minh lúa nước, với ước nguyện cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người người mạnh khỏe, gia đình ấm no, hạnh phúc. Ngày nay, lễ rước nước được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 3 (âm lịch) trong Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến.
Ngày 12 tháng 3, trước đây vào ngày này nhà đền tổ chức rước Liềm (hay còn gọi là rước Câu liêm hay rước Bôn) đầy trang trọng. Theo các cụ cao niên, rước Liềm thực chất là “rước theo con trăng”, bởi hình dáng cong vút của chiếc Câu liêm không chỉ mô phỏng vầng trăng khu yết - biểu tượng cho quyền năng của Thánh Mẫu - mà còn tượng trưng cho sự sinh sôi, khởi đầu của một chu kỳ canh tác mới. Đây là một nét đẹp văn hóa đặc trưng, mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc cho nền văn minh lúa nước và lòng thành kính cầu mong sự bảo hộ của Thánh Mẫu đối với mùa màng, giúp đời sống người dân Phố Hiến thêm ấm no, hạnh phúc. Trải qua thời gian, nghi thức rước Liềm đã bị mai một. Ngày nay, vào ngày này không gian Phố Hiến rực rỡ cờ hoa bước vào ngày hội rước Du (rước Mẫu đi tuần du quanh phố phường). Đây là nghi thức quan trọng và quy mô nhất, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Nghi thức rước Du xưa kia được diễn ra vào ngày 13 tháng 3 (âm lịch). Ngay từ sáng sớm, những người trực tiếp đảm nhận các công việc của cuộc rước và nhân dân đã tập trung đông đủ tại sân đền, với những bộ lễ phục, trang phục nghiêm chỉnh, đẹp đẽ, đủ các sắc màu để tham gia rước kiệu. Đoàn rước được sắp xếp theo thứ tự: đội rồng, sử tử, đội cờ, đội trống, chiêng, bát bửu, phường bát âm, kiệu long đình, kiệu Thành hoàng, kiệu Mẫu, kiệu phụng theo sau là các cụ hai giới. Lễ rước khởi hành từ đền Mẫu theo đường Bãi Sậy qua đền Trần rồi rẽ vào đường Trưng Trắc. Trên cung đường rước, đoàn rước đi qua những di tích cổ kính của Khu di tích Phố Hiến: đền Thiên Hậu, chùa Phố, Võ Miếu tiến vào đường Điện Biên rồi xuôi theo đường Phố Hiến để về đình Hiến. Đoàn rước đi đến đâu hai bên đường các gia đình bày lễ bái vọng trước cửa nhà. Nhìn từ trên cao, đoàn rước kéo dài tựa như một dải lụa đa sắc uốn lượn mềm mại giữa lòng phố Hiến cổ kính. Khi kiệu Mẫu chuẩn bị tiến vào sân đình, không gian trở nên nhộn nhịp bởi những điệu múa chào mừng hòa cùng tiếng trống nhạc tưng bừng, rộn rã. Sau đó, kiệu Mẫu được cung nghinh vào gian chính điện, đặt trang trọng bên cạnh kiệu Thành hoàng để đội tế bắt đầu thực hiện các nghi thức linh thiêng. Đoàn rước dừng chân tại đình Hiến hơn một giờ đồng hồ cho nhân dân dâng hương, trước khi tiếp tục hành trình theo đường Phố Hiến và Bãi Sậy để trở về đền Mẫu. Đặc biệt, trên đường về, đoàn rước còn có thêm sự tham gia của nhân dân phường Hồng Châu, khiến bầu không khí ngày hội càng thêm phần đông vui, nhộn nhịp và thắt chặt tình gắn kết cộng đồng. Buổi chiều ngày 12 tháng 3, kiệu Thành hoàng được rước trở về đình Hiến. Thứ tự đoàn rước được sắp xếp theo thứ tự như ngày mồng 9 tháng 3. Đoàn rước sau khi về đến đình Hiến, bát hương Thành hoàng được rước vào đình và làm lễ an vị. Nghi thức này xưa kia được diễn ra vào ngày 15 tháng 3 (âm lịch). Ngày 13 tháng 3 là ngày Thánh Mẫu hóa về trời. Ban tổ chức lễ hội tổ chức tế lễ tại đền do đội tế nam thực hiện theo nghi thức tế lễ truyền thống. Đặc biệt nhất là mâm lễ vật dâng cúng lên thánh Mẫu hoàn toàn là những món chay thanh tịnh, được bày trang trọng trong mâm đồng, phủ khăn nhiễu đỏ thắm. Lễ vật bao gồm: một bát canh miến nấu cùng táo tàu và nấm hương, cơm nắm, muối vừng, chả đỗ rán và một bát cháo bầu dục. Những món ăn giản dị, khiêm nhường này không chỉ là đồ dâng cúng mà còn ẩn chứa một câu chuyện lịch sử đầy xúc động. Đó là biểu tượng nhắc nhớ về những ngày gian khó, khi Mẫu phải lánh nạn trong sự truy đuổi của quân giặc tại đảo Nhai Sơn và những ngày lênh đênh trên biển cả. Nghi thức dâng lễ chay vừa thể hiện tấm lòng hiếu nghĩa của nhân dân, vừa là cách để hậu thế ghi nhớ khí tiết và cuộc đời thăng trầm của Thánh Mẫu. Sáng ngày 15 tháng 3, Ban tổ chức lễ hội cùng nhân dân địa phương làm lễ rước tượng Thánh Mẫu hồi cung và làm lễ tạ khóa (lễ tạ của một khoá hội), đây là một nghi thức không thể thiếu trong ngày hội đền Mẫu. Nội dung bài khấn nhằm tạ ơn Thánh Mẫu đã cho nhân dân được tổ chức một khóa hội thành công và mong Thánh Mẫu phù trợ cho nhân dân mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, con cháu học hành giỏi giang, thi cử đỗ đạt,... đồng thời xin cất đi những đồ của Mẫu như: Cờ, trống, chiêng, các đồ tế khí, xếp kiệu lại chờ kỳ hội năm sau.
Đắm mình trong Lễ hội đền Mẫu, ta vừa như cảm nhận được sự uy nghi, linh thiêng của nghi lễ rước kiệu, rước nước, dâng hương tế Thánh Mẫu. Đồng thời, lại như được hòa cùng không khí sôi nổi hào hứng của phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: cờ người, chọi gà, đi cầu kiều, bắt vịt, kéo co,… Đặc biệt, khi nhắc đến Lễ hội đền Mẫu không thể không nhắc tới tục hầu bóng, hát văn. Vốn từ lâu đền Mẫu đã được coi là trung tâm thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu nổi tiếng của người Việt. Dưới nhịp phách, tiếng đàn nguyệt và những lời hát văn trau chuốt của các cung văn, người dự hội như được đắm mình trong thế giới huyền ảo. Qua mỗi giá đồng, người dân không chỉ gửi gắm ước vọng về một cuộc sống bình an, tài lộc mà còn thể hiện lòng tri ân sâu sắc đối với Thánh Mẫu - người mẹ linh thiêng che chở cho vùng đất Phố Hiến. Tục hầu bóng trong Lễ hội đền Mẫu chính là sự khẳng định mạnh mẽ cho sức sống và giá trị văn hóa bền vững của di sản văn hóa phi vật thể nhân loại trên mảnh đất Hưng Yên nghìn năm văn hiến.
Khi những tiếng trống hội cuối cùng dần thưa lại và tượng Thánh Mẫu đã yên vị, Lễ hội đền Mẫu Hưng Yên khép lại trong sự hoàn mãn và niềm hân hoan rạng rỡ trên gương mặt mỗi người dân như thể thầm hẹn gặp nhau trong mùa trẩy hội tới. Có thể thấy, Lễ hội đền Mẫu không chỉ làm người xem được chứng kiến các nghi thức của một hệ thống lễ với các thao tác thuần thục mang tính nghệ thuật và biểu trưng cao mà còn là dịp để mỗi người dân Hưng Yên nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung có thể cảm nhận mối quan hệ nhiều chiều “tình làng nghĩa xóm”, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thực tại và hư vô, giữa thiêng liêng và trần thế,... tất cả đều được gìn giữ là một tài sản vô giá lưu truyền mãi về sau. Hình ảnh đoàn rước uy nghi hay những giá hầu bóng thăng hoa đã dệt nên một bức tranh văn hóa đa sắc, khẳng định sức sống mãnh liệt của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Dẫu lễ hội kết thúc, nhưng dư âm về lòng từ bi của Thánh Mẫu và niềm tin vào một năm mới mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc sẽ còn mãi vang vọng, thôi thúc bước chân của du khách thập phương hẹn ngày trở lại với mảnh đất Hưng Yên thắm đượm nghĩa tình, về với ngôi đền Mẫu linh thiêng cổ kính bên Hồ Bán Nguyệt thơ mộng./.