ĐỀN TRẦN

Đường Bãi Sậy, phường Phố Hiến (trước là phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên

GIỚI THIỆU CHUNG

Đền Trần (Trần Đại Vương Từ) tọa lạc tại đường Bãi Sậy, phường Phố Hiến (trước là phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Ngôi đền là là một trong những di tích tiêu biểu thuộc quần thể di tích Phố Hiến, nằm bên hồ Bán Nguyệt, trong không gian cảnh quan thơ mộng.
Đền Trần đã được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là “Di tích Lịch sử và Kiến trúc nghệ thuật” quốc gia theo Quyết định  số 97/QĐ ngày 21/01/1992 và là một trong 16 di tích thuộc Khu Di tích Phố Hiến – “Di tích Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2014.
di tích

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ

di tích
Ngôi đền tôn thờ người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - vị tướng trụ cột của vương triều Trần. Ông sinh ngày 10 tháng Chạp năm Mậu Tý (1228) trong một gia đình quý tộc thuộc tôn thất nhà Trần, nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định. Cha ông là An Sinh vương Trần Liễu, anh ruột của vua Trần Thái Tông, mẹ là Nguyệt Vương Phi.
Ngay từ lúc mới sinh, Trần Quốc Tuấn đã được coi là bậc kỳ tài sau này có thể cứu nước, giúp đời. Với tư chất thông minh, tài trí hơn người, lại được giáo dục, rèn luyện toàn diện ngay từ thủa nhỏ, nên Quốc Tuấn sớm trở thành người văn, võ toàn tài.
Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn có dung mạo khôi ngô, đọc thông hiểu rộng, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong con có thể rửa nhục cho mình. Song, Trần Quốc Tuấn đã tỏ rõ là một bậc hiền tài, một vị anh hùng cứu nước, biết đặt lợi nước lên trên thù nhà, tạo nên sự thống nhất ý trí của toàn bộ vương triều, vun trồng khối đoàn kết trong gia tộc, tạo cho thế nước đủ sức mạnh đè bẹp quân thù. Ông đã ba lần tham gia chống quân Mông - Nguyên xâm lược, được vua Trần phong làm Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt đã làm nên chiến thắng, giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi đã chặn đứng đà xâm lược của quân giặc xuống Đông Nam Á, đồng thời che chở cho nhiều dân tộc khỏi họa ngoại xâm.
Không chỉ là nhà quân sự lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn còn là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm lý luận quân sự có giá trị như: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư,… khẳng định một bước phát triển quan trọng của Khoa học quân sự Việt Nam - hình thành học thuyết khoa học quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước.
Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) tại tư dinh Kiếp Bạc. Theo di nguyện thi hài ông được hỏa táng, thu vào bình đồng và an táng tại vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc. Ông được phong tước Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương. Nhà vua cho lập đền thờ tại Vạn Kiếp, Chí Linh, Hải Dương và cũng chính là ấp phong của ông lúc sinh thời.
Trong tâm thức người dân đất Việt, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã đi vào huyền thoại, đi vào thế giới tâm linh, trở thành vị “Thánh” được toàn dân thờ phụng. Ông được người đời tôn xưng là vị thần bảo vệ, che chở cho cư dân nông nghiệp tránh được thiên tai, địch họa, đem lại mùa màng tươi tốt. Từ Trần Hưng Đạo đến “Đức Thánh Trần” rồi “Đức Thánh Cha”. Từ một nhân vật lịch sử “bằng xương bằng thịt” đã trở thành vị thánh thiêng liêng được tôn thờ rộng rãi và phổ biến nhất trong các vị thần linh đất Việt.

ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC

Tương truyền, đền Trần được xây dựng trên một vị thế đắc địa về cảnh quan, phong thủy của Phố Hiến xưa. Đây là nơi hội tụ của ba con sông lại gần cửa biển nên trở thành vị trí chiến lược trọng yếu, thuận lợi cho cả giao thông thủy bộ. Vì vậy, Trần Hưng Đạo đã chọn nơi đây làm địa điểm đóng quân doanh trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 và thứ 3. Phòng tuyến này nằm trong chiến lược bảo vệ vùng Tức Mặc (quê hương của Nhà Trần) đồng thời có thể làm bàn đạp để phản công quân địch, giải phóng Thăng Long.
Theo các tư liệu lịch sử, đền Trần được khởi dựng vào nửa đầu thế kỷ XIV sau khi Hưng Đạo Đại Vương mất. Trải qua sự biến thiên của thời gian, sự thăng trầm của lịch sử, dưới triều Nguyễn, niên hiệu Tự Đức 16 (1863) và niên hiệu Thành Thái 4 (1892) ngôi đền đã được trùng tu, tôn tạo. Dấu ấn kiến trúc đền Trần hiện nay mang đậm phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn, thế kỷ XIX. Hiện nay, kiến trúc tổng thể đền Trần theo kiểu chữ Tam gồm: 05 gian Tiền tế, 05 gian Trung từ và 03 gian Hậu cung. Các hạng mục công trình được bố trí cân đối, hài hòa theo kiểu “trùng thềm điệp ốc”. Tại gian trung tâm Hậu cung là ban thờ Đức Thánh Trần. Phía sau là ngai và bài vị Tổ nghiệp họ Trần cùng gia thất.
di tích

HIỆN VẬT TIÊU BIỂU

Hiện nay, đền Trần còn bảo lưu được nhiều hiện vật rất có giá trị về lịch sử - văn hóa và mỹ thuật, đó là hệ thống hoành phi, câu đối, ngai thờ, bia đá, bản khắc thẻ,… và đặc biệt là 10 đạo sắc phong thời Nguyễn. Đây là những di sản văn hóa vô giá, là nguồn sử liệu quý báu đối với các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về lịch sử di tích cũng như Phố Hiến xưa.
  • Bia Trần Vương Từ An Hòa Hội Bi Ký (1869)

    Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...

  • Bia Trần Vương Từ Chung Bi Ký (1893)

    Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...

  • Bia An Hòa Hội Hưng Công Bi Ký

    Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...

  • Bia Thiên Quan miếu bi ký

    Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...

  • Bia đá

    Bia gồm hai mặt (mặt trước và mặt sau) bao gồm các ...

  • Mộc bản (bản khắc thẻ)

    Mộc bản là những bản gỗ khắc chữ Hán và chữ Nôm. ...

  • Sắc phong (1917)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

  • Sắc phong (1924)

    Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

Hằng năm, khi tiết trời chuyển nhịp, đền Trần lại trở thành tâm điểm của những cuộc hành hương về miền di sản với hai kỳ lễ hội mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Đó là ngày mùng 8 tháng Ba âm lịch, khi cả không gian như sống lại hào khí của chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng, và ngày 20 tháng Tám âm lịch - phút giây lắng đọng tưởng niệm ngày hóa thánh của Đức thánh Trần Hưng Đạo, vị cha già kính yêu của dân tộc.

Trong đó, hội tháng Ba chính là mùa lễ hội rực rỡ và quy mô nhất trong năm. Dù chính hội diễn ra từ mùng 8 đến mùng 10, nhưng sức hút từ tâm linh và những giá trị văn hóa đặc sắc thường níu chân du khách, khiến không khí hội hè kéo dài mãi tới rằm tháng Ba mới khép lại. Trong những ngày ấy, bến nước hồ Bán Nguyệt như xao động hơn bởi dòng người tề tựu, cùng nhau thắp nén tâm nhang để tri ân một vương triều hiển hách và gửi gắm khát vọng về một dân tộc tự cường, mãi mãi trường tồn cùng non sông.

Từ ngày mồng 6 hoặc mồng 7, ban tổ chức cũng Nhân dân tổ chức lễ mộc dục. Nghi thức này được thực hiện với việc dùng nước trong chóe (được lấy từ sông Hồng trong lễ rước nước kỳ hội trước) để lau ngai, bài vị của Thánh, các đồ thờ tự trong khu vực nội đền. Việc bao sái phải làm theo tuần tự, bắt đầu từ Hậu cung ra đến các tòa bên ngoài. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ “Cáo yết” với ý nghĩa là báo cáo các vị thần linh và kính cẩn mời các ngài về dự lễ hội, phù trợ cho dân làng tổ chức lễ hội được yên vui, một năm thuận lợi mùa màng bội thu. Lễ vật dâng Thánh gồm lễ chay và lễ mặn. Lễ chay có hoa quả, oản, bánh trái (chủ yếu là hoa quả). Lễ mặn có xôi gà, trầu rượu (1 mâm xôi, 1 con gà hoặc 1 thủ lợn). Phía bên ngoài sân đền, ban tổ chức lễ hội cũng tiến hành lắp ráp các kiệu và tập dượt cho các đội trai kiệu, phù giá, đội bát âm,... chuẩn bị cho buổi rước trong những ngày chính hội.

Sáng ngày mồng 8 tháng Ba âm lịch, không gian đền Trần bừng lên trong thanh âm rộn rã mà trang nghiêm của ngày khai hội. Ban tổ chức cùng đông đảo Nhân dân và du khách thập phương đồng lòng hội tụ, hướng tâm thức về phía điện thờ linh thiêng để cử hành lễ khai mạc. Trong giây phút lắng đọng của buổi lễ, những trang sử vàng chói lọi về công lao của Hưng Đạo Đại Vương một lần nữa được tái hiện, oai hùng như tiếng sóng Bạch Đằng năm cũ. Tiếp đến là màn trống hội với sự hòa âm của những chiếc trống to nhỏ như một lời hiệu triệu đầy khí thế, báo hiệu một mùa lễ hội thành công, một năm mới với nhiều thắng lợi. Tiếng trống nhộn nhịp tuơi vui làm người xem dễ liên tưởng đến âm thanh tươi vui của thôn xóm rộn rã. Đó cũng là những thanh âm hùng tráng, khỏe khoắn thể hiện quan điểm thẩm mĩ của người nông dân vùng châu thổ có lịch sử ngàn đời.

Sau màn trống hội là nghi thức tế do đội tế nam thực hiện. Đội tế nam của đền Trần gồm 32 người, độ tuổi trên 50 tuổi. Chủ tế trang phục áo thụng dài màu đỏ, quần trắng, thắt lưng bản to, đội mũ và đi hia đỏ, còn các thành viên khác (đông xướng, tây xướng, bồi tế viên, củ soát lễ vật,..) trang phục màu xanh dương, đội mũ và đi hia cùng màu. Quy trình tế lễ được thực hiện bài bản (được truyền lại từ xa xưa), bao gồm các bước: Khởi tuần hương đăng, sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ và lễ tất. Trong lúc tế, những lúc dâng hương, dâng rượu, đốt văn tế, phường bát âm đều phải cử nhạc, các hành động trong khi tế đều được thực hành theo tiếng trống, tiếng chiêng. Mỗi cuộc tế như vậy thường kéo dài chừng hai giờ đồng hồ.

 Các ngày sau đó, tham gia lễ tế còn có đội tế nữ quan ở Đào Đặng; đội tế xã Tân Châu (Khoái Châu), dân ở các phường trong khu vực và các tỉnh lân cận,…

Trước kia, đền Trần ít khi tổ chức lễ rước. Từ khi di tích được xếp hạng cấp quốc gia (năm 1992), cứ 5 năm tổ chức rước 1 lần, thường vào ngày mồng 9 hoặc mồng 10 tháng 3 âm lịch. Vào ngày hội rước, quang cảnh thật sôi động. Đi đầu là cờ thần, án thư, bàn rước Phật, cờ phướn, đội kèn trống, long đình, ngựa hồng, ngựa bạch, kiệu bát cống, tượng Yết Kiêu, Dã Tượng, kiệu Đức Đại Vương và kiệu võng Nguyên Từ Quốc Mẫu. Đan xen giữa các kiệu rước là cờ, tàn, lọng, bát bửu, lộ bộ, phường bát âm, đội tế nam, tế nữ và dân chúng. Trong đám rước có đoàn múa rồng, múa sư tử, múa sênh tiền. Đoàn rước đi từ đền Trần, theo đường Bãi Sậy, Trưng Trắc, ra đường Trần Quốc Toản, về đường Phạm Ngũ Lão, đường Điện Biên, Dốc Đá rồi theo đường Bãi Sậy về đền. Những nơi đoàn rước đi qua như đền Thiên Hậu, chùa Phố và đền Mẫu, dân chúng đều đặt nhang án nghênh đón.

Từ năm 2009 đến nay, nghi thức rước kiệu tại đền Trần không còn bó hẹp trong không gian bản đền mà đã vươn mình, trở thành một phần linh hồn rạng rỡ của Lễ hội Văn hóa Dân gian Phố Hiến. Đây không chỉ là một hành trình tâm linh, mà còn là một cuộc đại hội quân đầy kiêu hãnh của các di tích vùng đất địa linh. Giữa vang vọng tiếng trống, tiếng chiêng, những đoàn rước nước, rước kiệu quy mô lớn nối đuôi nhau, tạo nên một dải lụa sắc màu rực rỡ uốn lượn bên hồ Ban Nguyệt thơ mộng, bên dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa.

Đó là khoảnh khắc huy hoàng khi kiệu rước của đền Trần cùng tề tựu, song hành với các di tích anh em: từ sự uy nghiêm của đền Mây, đền Kim Đằng, nét cổ kính của đền Mẫu, đình Hiến đến vẻ thâm trầm của đền Nam Hòa, đền Hoàng Bà, đền Thiên Hậu và đền Trạ. Mỗi cỗ kiệu, mỗi đoàn rước mang theo một câu chuyện lịch sử riêng, nhưng khi hội tụ lại, chúng tạo nên một sức mạnh cộng hưởng, minh chứng cho sợi dây liên kết bền chặt giữa các cộng đồng cư dân. Trong không gian ngan ngát hương trầm và rực rỡ cờ hoa, cuộc rước như một lời khẳng định đầy tự hào về sức sống mãnh liệt của di sản Phố Hiến, nơi những giá trị tâm linh nghìn đời vẫn đang cùng nhau tỏa sáng và lưu truyền đến mai sau.

Trong những ngày lễ hội, ban quản lý di tích cùng nhân dân còn tổ chức các trò chơi như cờ tướng, cờ người, chọi gà, đi cầu kiều, có năm dựng cây đu. Buổi tối tổ chức văn nghệ có ca nhạc, hát quan họ, hát chèo,… thu hút đông đảo nhân dân và khách thập phương tham dự.

Buổi chiều ngày 10 tháng Ba âm lịch, đội tế nữ đền Trần thực hiện nghi thức tế tạ khóa (lễ tạ của một khoá hội), đây là một nghi thức không thể thiếu trong ngày hội đền Trần. Nội dung bài khấn nhằm tạ ơn Đức Thánh đã cho Nhân dân được tổ chức một khóa hội thành công và mong Đức Thánh phù trợ cho nhân dân mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, con cháu học hành giỏi giang, thi cử đỗ đạt,... đồng thời xin cất đi những đồ của Thánh như: Cờ, trống, chiêng, các đồ tế khí, xếp kiệu lại chờ kỳ hội năm sau. Hội khép lại trong sự lưu luyến, nhưng niềm tin và sự che chở của Ngài vẫn ở lại trong lòng mỗi người, để rồi tất cả lại cùng thao thức chờ đợi tiếng trống hội rộn ràng của mùa xuân năm sau.

Giờ đây, giữa nhịp sống hối hả của thời đại, đền Trần vẫn đứng đó như một biểu tượng văn hóa rạng ngời, một viên ngọc quý trong lòng quần thể di tích Phố Hiến. Không chỉ vào những ngày hội rộn rã, mà mỗi độ Tết đến xuân về, ngôi đền lại trở thành bến đỗ bình yên cho biết bao tâm hồn tìm về dâng hương, chiêm bái. Với vẻ đẹp giao hòa giữa sự uy nghiêm của quá khứ và sự thơ mộng của cảnh quan, đền Trần không chỉ là nơi lưu giữ niềm tự hào của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, mà còn là nhịp cầu văn hóa bền bỉ, kết nối trái tim du khách thập phương với mạch nguồn dân tộc, khiến ai đã một lần ghé thăm Phố Hiến cũng đều mang theo nỗi niềm vương vấn và mong ngày trở lại.


Lễ hội truyền thống

BẢN ĐỒ