Sắc phong là văn bản hành chính cao cấp do nhà vua ...
Hằng năm, khi tiết trời chuyển nhịp, đền Trần lại trở thành tâm điểm của những cuộc hành hương về miền di sản với hai kỳ lễ hội mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Đó là ngày mùng 8 tháng Ba âm lịch, khi cả không gian như sống lại hào khí của chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng, và ngày 20 tháng Tám âm lịch - phút giây lắng đọng tưởng niệm ngày hóa thánh của Đức thánh Trần Hưng Đạo, vị cha già kính yêu của dân tộc.
Trong đó, hội tháng Ba chính là mùa lễ hội rực rỡ và quy mô nhất trong năm. Dù chính hội diễn ra từ mùng 8 đến mùng 10, nhưng sức hút từ tâm linh và những giá trị văn hóa đặc sắc thường níu chân du khách, khiến không khí hội hè kéo dài mãi tới rằm tháng Ba mới khép lại. Trong những ngày ấy, bến nước hồ Bán Nguyệt như xao động hơn bởi dòng người tề tựu, cùng nhau thắp nén tâm nhang để tri ân một vương triều hiển hách và gửi gắm khát vọng về một dân tộc tự cường, mãi mãi trường tồn cùng non sông.
Từ ngày mồng 6 hoặc mồng 7, ban tổ chức cũng Nhân dân tổ chức lễ mộc dục. Nghi thức này được thực hiện với việc dùng nước trong chóe (được lấy từ sông Hồng trong lễ rước nước kỳ hội trước) để lau ngai, bài vị của Thánh, các đồ thờ tự trong khu vực nội đền. Việc bao sái phải làm theo tuần tự, bắt đầu từ Hậu cung ra đến các tòa bên ngoài. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ “Cáo yết” với ý nghĩa là báo cáo các vị thần linh và kính cẩn mời các ngài về dự lễ hội, phù trợ cho dân làng tổ chức lễ hội được yên vui, một năm thuận lợi mùa màng bội thu. Lễ vật dâng Thánh gồm lễ chay và lễ mặn. Lễ chay có hoa quả, oản, bánh trái (chủ yếu là hoa quả). Lễ mặn có xôi gà, trầu rượu (1 mâm xôi, 1 con gà hoặc 1 thủ lợn). Phía bên ngoài sân đền, ban tổ chức lễ hội cũng tiến hành lắp ráp các kiệu và tập dượt cho các đội trai kiệu, phù giá, đội bát âm,... chuẩn bị cho buổi rước trong những ngày chính hội.
Sáng ngày mồng 8 tháng Ba âm lịch, không gian đền Trần bừng lên trong thanh âm rộn rã mà trang nghiêm của ngày khai hội. Ban tổ chức cùng đông đảo Nhân dân và du khách thập phương đồng lòng hội tụ, hướng tâm thức về phía điện thờ linh thiêng để cử hành lễ khai mạc. Trong giây phút lắng đọng của buổi lễ, những trang sử vàng chói lọi về công lao của Hưng Đạo Đại Vương một lần nữa được tái hiện, oai hùng như tiếng sóng Bạch Đằng năm cũ. Tiếp đến là màn trống hội với sự hòa âm của những chiếc trống to nhỏ như một lời hiệu triệu đầy khí thế, báo hiệu một mùa lễ hội thành công, một năm mới với nhiều thắng lợi. Tiếng trống nhộn nhịp tuơi vui làm người xem dễ liên tưởng đến âm thanh tươi vui của thôn xóm rộn rã. Đó cũng là những thanh âm hùng tráng, khỏe khoắn thể hiện quan điểm thẩm mĩ của người nông dân vùng châu thổ có lịch sử ngàn đời.
Sau màn trống hội là nghi thức tế do đội tế nam thực hiện. Đội tế nam của đền Trần gồm 32 người, độ tuổi trên 50 tuổi. Chủ tế trang phục áo thụng dài màu đỏ, quần trắng, thắt lưng bản to, đội mũ và đi hia đỏ, còn các thành viên khác (đông xướng, tây xướng, bồi tế viên, củ soát lễ vật,..) trang phục màu xanh dương, đội mũ và đi hia cùng màu. Quy trình tế lễ được thực hiện bài bản (được truyền lại từ xa xưa), bao gồm các bước: Khởi tuần hương đăng, sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ và lễ tất. Trong lúc tế, những lúc dâng hương, dâng rượu, đốt văn tế, phường bát âm đều phải cử nhạc, các hành động trong khi tế đều được thực hành theo tiếng trống, tiếng chiêng. Mỗi cuộc tế như vậy thường kéo dài chừng hai giờ đồng hồ.
Các ngày sau đó, tham gia lễ tế còn có đội tế nữ quan ở Đào Đặng; đội tế xã Tân Châu (Khoái Châu), dân ở các phường trong khu vực và các tỉnh lân cận,…
Trước kia, đền Trần ít khi tổ chức lễ rước. Từ khi di tích được xếp hạng cấp quốc gia (năm 1992), cứ 5 năm tổ chức rước 1 lần, thường vào ngày mồng 9 hoặc mồng 10 tháng 3 âm lịch. Vào ngày hội rước, quang cảnh thật sôi động. Đi đầu là cờ thần, án thư, bàn rước Phật, cờ phướn, đội kèn trống, long đình, ngựa hồng, ngựa bạch, kiệu bát cống, tượng Yết Kiêu, Dã Tượng, kiệu Đức Đại Vương và kiệu võng Nguyên Từ Quốc Mẫu. Đan xen giữa các kiệu rước là cờ, tàn, lọng, bát bửu, lộ bộ, phường bát âm, đội tế nam, tế nữ và dân chúng. Trong đám rước có đoàn múa rồng, múa sư tử, múa sênh tiền. Đoàn rước đi từ đền Trần, theo đường Bãi Sậy, Trưng Trắc, ra đường Trần Quốc Toản, về đường Phạm Ngũ Lão, đường Điện Biên, Dốc Đá rồi theo đường Bãi Sậy về đền. Những nơi đoàn rước đi qua như đền Thiên Hậu, chùa Phố và đền Mẫu, dân chúng đều đặt nhang án nghênh đón.
Từ năm 2009 đến nay, nghi thức rước kiệu tại đền Trần không còn bó hẹp trong không gian bản đền mà đã vươn mình, trở thành một phần linh hồn rạng rỡ của Lễ hội Văn hóa Dân gian Phố Hiến. Đây không chỉ là một hành trình tâm linh, mà còn là một cuộc đại hội quân đầy kiêu hãnh của các di tích vùng đất địa linh. Giữa vang vọng tiếng trống, tiếng chiêng, những đoàn rước nước, rước kiệu quy mô lớn nối đuôi nhau, tạo nên một dải lụa sắc màu rực rỡ uốn lượn bên hồ Ban Nguyệt thơ mộng, bên dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa.
Đó là khoảnh khắc huy hoàng khi kiệu rước của đền Trần cùng tề tựu, song hành với các di tích anh em: từ sự uy nghiêm của đền Mây, đền Kim Đằng, nét cổ kính của đền Mẫu, đình Hiến đến vẻ thâm trầm của đền Nam Hòa, đền Hoàng Bà, đền Thiên Hậu và đền Trạ. Mỗi cỗ kiệu, mỗi đoàn rước mang theo một câu chuyện lịch sử riêng, nhưng khi hội tụ lại, chúng tạo nên một sức mạnh cộng hưởng, minh chứng cho sợi dây liên kết bền chặt giữa các cộng đồng cư dân. Trong không gian ngan ngát hương trầm và rực rỡ cờ hoa, cuộc rước như một lời khẳng định đầy tự hào về sức sống mãnh liệt của di sản Phố Hiến, nơi những giá trị tâm linh nghìn đời vẫn đang cùng nhau tỏa sáng và lưu truyền đến mai sau.
Trong những ngày lễ hội, ban quản lý di tích cùng nhân dân còn tổ chức các trò chơi như cờ tướng, cờ người, chọi gà, đi cầu kiều, có năm dựng cây đu. Buổi tối tổ chức văn nghệ có ca nhạc, hát quan họ, hát chèo,… thu hút đông đảo nhân dân và khách thập phương tham dự.
Buổi chiều ngày 10 tháng Ba âm lịch, đội tế nữ đền Trần thực hiện nghi thức tế tạ khóa (lễ tạ của một khoá hội), đây là một nghi thức không thể thiếu trong ngày hội đền Trần. Nội dung bài khấn nhằm tạ ơn Đức Thánh đã cho Nhân dân được tổ chức một khóa hội thành công và mong Đức Thánh phù trợ cho nhân dân mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, con cháu học hành giỏi giang, thi cử đỗ đạt,... đồng thời xin cất đi những đồ của Thánh như: Cờ, trống, chiêng, các đồ tế khí, xếp kiệu lại chờ kỳ hội năm sau. Hội khép lại trong sự lưu luyến, nhưng niềm tin và sự che chở của Ngài vẫn ở lại trong lòng mỗi người, để rồi tất cả lại cùng thao thức chờ đợi tiếng trống hội rộn ràng của mùa xuân năm sau.
Giờ đây, giữa nhịp sống hối hả của thời đại, đền Trần vẫn đứng đó như một biểu tượng văn hóa rạng ngời, một viên ngọc quý trong lòng quần thể di tích Phố Hiến. Không chỉ vào những ngày hội rộn rã, mà mỗi độ Tết đến xuân về, ngôi đền lại trở thành bến đỗ bình yên cho biết bao tâm hồn tìm về dâng hương, chiêm bái. Với vẻ đẹp giao hòa giữa sự uy nghiêm của quá khứ và sự thơ mộng của cảnh quan, đền Trần không chỉ là nơi lưu giữ niềm tự hào của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, mà còn là nhịp cầu văn hóa bền bỉ, kết nối trái tim du khách thập phương với mạch nguồn dân tộc, khiến ai đã một lần ghé thăm Phố Hiến cũng đều mang theo nỗi niềm vương vấn và mong ngày trở lại.